Liên kết vùng: Phân tích lợi thế và các kiến nghị cho Thành Phố Hồ Chí Minh

3
  1. Bối cảnh TP.HCM và tính cấp thiết liên kết vùng

TP.HCM thuộc vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ, có khoảng cách thuận lợi về giao thông giữa các tỉnh trong Vùng và ngoài ra còn có thể tiếp cận khá thuận lợi với Vùng ĐBSCL và các quốc gia lân cận như Lào, và Campuchia nếu chỉ xét về đường bộ, và đồng thời có khả năng tiếp cận nhanh chóng khi liên kết với các quốc gia trong khối ASEAN và Trung Quốc bằng đường hàng không. Với vai trò là đầu tàu về phát triển kinh tế của cả nước, TP.HCM hiện nay là nơi tập trung nhiều thế mạnh về phát triển dịch vụ, công nghệ cao và các ngành công nghiệp trọng yếu như cơ khí, điện tử-tin học, cao su-nhựa, và chế biến tinh lương thực thực phẩm. Trong bối cảnh đô thị hóa, xu hướng đầu tư FDI và khu vực tư nhân đã và đang diễn ra mạnh mẽ, cộng thêm vai trò là trung tâm tài chính – dịch vụ – giáo dục lớn của cả nước TP.HCM đang dần trở thành; một siêu đô thị với một cơ chế quản lý giống hệt của 63 tỉnh thành trong cả nước đã phần nào hạn chế vai trò đầu tàu và động lực của một Thành    phố có 1 truyền thống tiên phong trong đổi mới kinh tế do các hạn chế đang dần bộc lộ như cơ sở hạ tầng đang quá tải, các vấn đề ngập nước, tắc nghẽn giao thông, không gian phát triển đô thị theo cơ chế đóng kín không còn phù hợp với quá trình hội nhập toàn cầu và khu vực.

Từ bối cảnh này bài viết tiến hành phân tích lợi thế so sánh của TP.HCM với các địa phương khác, đồng thời nhận dạng các điểm nghẽn trong quá trình liên kết vùng và từ đó đưa ra một số gợi ý ban đầu cho TP.HCM thực hiện liên kết vừng hiệu quả nhằm tiếp tục khẳng định là thành phố đi đầu trong cả nước và từ đó từng bước phấn đấu trở thành.

2. Phân tích 10 thế so sánh TP.HCM trong mối liên kết vùng

Mô hình kim cương của Michael Porter được vận dụng để phân tích lợi thế so sáĩủi của TP.HCM tập trung vào 4 ngành công nghiệp trọng yếu và 2 ngành công nghiệp truyên thông. Theo mô hình này, lợi thế so sánh sẽ cấu thành từ 4 nhóm yểu tó: (i) Chiến lược cải cách, (ii) Các điều kiện đầu vào, (iii) Các điều kiện cầu thị trường, (iv) Các dịch vụ hỗ trợ. Các nhóm yếu tố này sẽ được phân tích trong bối cảnh TP.HCM trong bối cảnh tiềm năng kết vùng giữa các tỉnh thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và Vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

2.1. Chiến lược cải cách

2.1.1. Tính năng động của lãnh đạo

TP.HCM có một lợi thế so sánh so với các địa phương khác về tính năng động của lãnh đạo. Tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá lãnh đạo TP.HCM rất năng động và sáng tạo trong việc giải quyết các vấn đề mới phát sinh chiếm 58%, cao nhât ừong so với các tỉnh so sánh. Lãnh đạo TP.HCM được đánh giá khá linh hoạt ừong việc cận dụng các khuôn khổ pháp luật nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp tư nhân (71% doanh nghiệp đồng ý). Lãnh đạo TP.HGM tỏ ra vượt trội so với các địa phương khác trong xúc tiến thương mại nhằm kết nối các doanh nghiệp trong TP.HCM và các doanh nghiệp khác ừong các vùng lân cận. Ngoài ra lãnh đạo TP.HCM cũng có sự vận dụng khá linh hoạt và luôn đi tiên phong trong kiến nghị các chính sách chung của Chính phủ từ tiếp xúc thực tiễn doanh nghiệp so với các tỉnh/thành phố khác, điều này thể hiện lãnh đạo TP.HCM ngoài việc từng bước góp phần hoàn thiện cơ chế chung còn làm cho các cơ chế chung này tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp.

Mặc dù lãnh đạo TP.HCM được đánh giá cao về tính năng động, tuy vậy hiệu quả của bộ máy thực thi cấp Sở ngành và quận/huyện còn hạn chế trong quá trình triển khai. Những tiêu chí như “Có những sáng kiến hay ở cấp tỉnh nhưng chưa được thực thi tốt ở các Sở, ngành”, “Lãnh đạo tỉnh có chủ trương, chính sách đúng đắn nhưng không được thực hiện tốt ở cấp huyện”, TP.HCM được doanh nghiệp đánh giá không tốt bằng các tỉnh khác thuộc các tỉnh/vùng so sánh (Phụ lục – Bảng I).

2.1.2. Cải cách hành chính

Mặc dù cải cách hành chính là một trong những chương trình đột phá của lãnh đạo TP.HCM, cho đến hiện nay thủ tục hành chính tại TP.HCM được đánh giá vẫn còn gây khá nhiều khó khăn cho doanh nghiệp nếu so sánh với các địa phương khác. Thời gian đăng ký cho doanh nghiệp trung bình tại TP.HCM là 14 ngày, tương đương với Bình Dương và Đồng Nai nhưng cao hơn nhiều so với trung bình của ĐBSCL (9 ngày). Thời gian thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp cũng tương tự, các doanh nghiệp ở TP.HCM, Bình Dương và Đồng Nai phải chờ 7 ngày trong khi trung bình ĐBSCL chỉ cần khoảng 5 ngày. Thời gian chờ đợi để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở TP.HCM là 45 ngày, cao hơn nhiều so với Bình Dương và trang binh ĐBSCL. số doanh nghiệp phải chờ hơn một tháng và ba tháng để hoàn thành tất cả các thủ tục để chính thức hoạt động ở TP.HCM cũng cao hơn so với các địa phương khác, lần lượt là 17% và 7%. Bên cạnh đó, chỉ có 35% doanh nghiệp tại TP.HCM đăng ký hoặc sửa đôi đăng ký kinh doanh thông qua bộ phận một cửa, thấp hơn nhiều so với Bình Dương, Đồng Nai và trung bình ĐBSCL. Tại bộ phận một cửa, tỉ lệ doanh nghiệp ở TP.HCM đồng ý với quan điểm cho rằng Hướng dẫn về thủ tục rõ ràng và đầy đủ là 55% và quan điểm Cán bộ am hiểu về chuyên môn là 27%, Cán bộ tại bộ phận Một cửa nhiệt tình, thân thiện là 20%, thấp hơn tại các địa phương Bình Dương, Đồng Nai và trung bình ĐBSCL

Tuy nhiên, TP.HCM cũng có một số lợi thế so với các địa phương khác về cải cách hành chính. Cụ thể, thời gian từ khi hồ sơ được coi là hợp lệ và tiếp nhận đến khi nhận được Giấy ĐKDN ở TP.HCM là 7 ngày, nhanh hơn Bình Dương và Đồng Nai. 70% doanh nghiệp cũng đồng ý cho rằng thủ tục tại bộ phận một cửa ở TP.HCM được niêm yết công khai, 35% doanh nghiệp đánh giá TP.HCM ứng dụng công nghệ thông tin tại bộ phận Một cửa tốt, cao hơn Bình Dương, Đồng Nai và trung bình ĐBSCL.

2.1.3. Chỉ phí giao dịch

TP.HCM kém lợi thế cạnh tranh so với các địa phương khác ở các khía cạnh chi phí giao dịch. Có tới 71% doanh nghiệp cùng ngành ở TP.HCM đồng ý răng họ thường phải trả thêm các khoản chi phí không chính thức, cao hơn so với Bình Dương, Đồng Nai và trung bình ĐBSCL. Có đến 74% doanh nghiệp tại TP.HCM, đồng ý cho rằng hiện tượng nhũng nhiễu khi giải quyết thủ tục cho doanh nghiệp là phổ biến, cao hơn các tỉnh ĐBSCL (53%). Tụy nhiên, hơn 2/3 doanh nghiệp TP.HCM cho rằng các khoản chi phí không chính thức ở mức châp nhận được, là mức ngang bằng các địa phương khác trong so sánh.

Tóm lại, trong trụ cột Chiến lược cải cách, TP.HCM có các lợi thế so sánh về tính năng động của lãnh đạo TP.HCM, xúc tiến thương mại trong liên kết doanh nghiệp và nhà đầu tư; thời gian xử lý thủ tục hành chính ở một số khâu như Giấy đăng ký kinh doanh, thủ tục tại bộ phận một cửa được đánh giá tương đối tốt và ứng dụng công nghệ thông tin tại bộ phận Một cửa tốt. Điều này tạo điều kiện tiềm năng cho liên kết vùng.

Tuy nhiên, TP.HCM cũng còn một số hạn chế so với các địa phương so sánh: (i) hiệu quả của bộ máy thực thi cấp Sở ngành và quận/huyện còn hạn chế; (ii) thủ tục hành chính tại TP.HCM được đánh giá còn gây khó khăn cho doanh nghiệp, (iii) TP.HCM kém lợi thế cạnh tranh so với các địa phương khác ở các khía cạnh chi phí giao dịch, đặc biệt có tới 71% doanh nghiệp cùng ngành ở TP.HCM đồng ý rằng họ thường phải trả thêm các khoản chi phí không chính thức. Điều này có nguy cơ giảm hấp dẫn các nhà đầu tư so với các địa phương khác, đặc biệt khi các địa phương lân cận đang rất tích cực trong nâng cao năng lực cạnh tranh và hỗ trợ doanh nghiệp.

2.2. Các điều kiện đầu vào

2.2.1. Lao động và thị trường lao động

TP.HCM có lực lượng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp cao hơn nhiều so với Bình Dương, Đồng Nai và trung bình ĐBSCL. TP.HCM có tổng số lao động trong các doanh nghiệp cao gấp 2,78 lần so với Bình Dương và gấp 3,59 lần so với Đồng Nai. Lao động trong các doanh nghiệp FDI của TP.HCM chiếm tỷ lệ 24%, tỉ lệ này thấp hơn Bình Dương, Đồng Nai và tương đương vói trung bình ĐBSCL. Điều này cho thấy TP.HCM là nơi thu hút lớn về lực lượng lao động do khả năng tạo việc làm rất cao từ thị trường lao động.

2.1.3. Đào tạo lao động

TP.HCM có lợi thế so sánh về đào tạo lao động. Hầu hết các doanh nghiệp TP.HCM hài lòng với lao động họ tuyển dụng và cho rằng lao động đáp ứng được nhu cầu sử dụng của DN. Tỉ lệ lao động tốt nghiệp trường đào tạo nghề/số lao động chưa qua đào tạo ở TP.HCM cao hon với Bình Dương, Đồng Nai và trung bình ĐBSCL. Với dịch vụ Dạy nghề do các cơ quan Nhà nước tại địa phương cung cấp, TP.HCM cũng được đánh giá cao hom Đồng Nai và ĐBSCL. Tuy nhiên, chi phí dành cho đào tạo lao động trong tổng chi phí kinh doanh cũng cao hơn các địa phương khác (chiếm 6,56%).

Tuy nhiên, đào tạo lao động TP.HCM vẫn còn một số hạn chế. Tỉ lệ lao động tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đào tạo nghề ngắn và dài hạn trên tổng lực lượng lao động của TP.HCM chiếm 9%, tuy có cao hơn các địa phương khác ừong so sánh, nhưng vẫn là một tỷ lệ thấp trong việc đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghiệp TP.HCM. Ngoài ra, chỉ 35% số lao động của doanh nghiệp trong khảo sát đã hoàn thành khóa đào tạo tại các trường dạy nghề, không có nhiều khác biệt so với các địa phương khác.

2.1.4. Tiếp cận đất đai

Khả năng tiếp cận đất đai của các doanh nghiệp tại TP.HCM mặc dù là cao nhưng so với các địa phương khác thì vẫn thấp hơn. Trên địa bàn chỉ có 88% diện tích đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thấp hơn Bình Dương, Đồng Nai và Trung bình ĐBSCL (lần lượt là 98%, 93% và 96%). Tỉ lệ doanh nghiệp có mặt bằng kinh doanh và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ đạt 37%, thấp hơn nhiều so vói Bình Dương và Trung bình ĐBSCL (khoảng 70%). Thêm vào đó, đánh giá rủi ro bị thu hồi đất bị đánh giá cao hơn các địa phương so sánh. Nếu bị thu hồi đất sẽ được bồi thường thỏa đáng tại TP.HCM lại được đánh giá thấp hơn các địa phương còn lại, chỉ có 25% doanh nghiệp cho rằng sẽ luôn luôn hoặc thường xuyên được bồi thường thỏa đáng nếu bị thu hồi đất. Ngoài ra, chỉ có 12% doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại TP.HCM đồng ý rằng họ sẽ không gặp cản trở về tiếp cận đất đai hoặc mở rộng mặt bằng kinh doanh, thấp hơn nhiều so với Bình Dương và ĐBSCL.

2.1.5. Công nghệ

Khả năng tiếp cận công nghệ của doanh nghiệp TP.HCM được đánh giá tốt hơn các địa phương so sánh. Có 44% doanh nghiệp TP.HCM đã từng sử dụng dịch vụ liên quan đến công nghệ; 69% doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch vụ liên quan đến công nghệ.

Ngoài ra, tiềm lực khoa học – công nghệ của Thành phố rất mạnh so với khu vực phía Nam và cả nước với gần 300 tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ gồm các viện, trung tâm nghiên cứu, trường Đại học với hơn 30.000 người làm công tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Đội ngũ khoa học – công nghệ của Thành phố chiếm khoảng 37% tổng số cán bộ khoa học-công nghệ của cả nước. Đây là nguồn tài nguyên có lợi thế của TP.HCM trong tiến trình phát triển và hội nhập quốc tế, phát huy vai trò trung tâm khoa học – công nghệ (nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao,…) của khu vực phía Nam và cả nước.

Tóm lại, trong trụ cột các điều kiện đầu vào, TP.HCM có các lợi thế so sánh về một thị trường lao động thu hút khá đông lực lượng lao động. Khả năng tiêp cận công nghệ của doanh nghiệp TP.HCM cũng được đánh giá tốt hơn các địa phương so sánh. Đào tạo lao động của TP.HCM nhìn chung cũng được đánh giá tốt hơn Đồng Nai, Bình Dương, ĐBSCL. Đặc biệt, TP.HCM có lực lượng lao động khoa học – công nghệ vượt trội so với các địa phương so sánh. Xuất phát từ những lợi thế kể trên, TP.HCM có lợi thế so sánh phát triển các ngành có hàm lượng khoa học – công nghệ cao, không yêu cầu nhiều đất đai, và thân ; thiện với môi trường như điện tử – công nghệ thông tin, cơ khí, nhựa kỹ thuật và ; cao su kỹ thuật.

Tuy nhiên, TP.HCM cũng còn một số hạn chế so với các địa phương so sánh:

(i) Tỉ lệ lao động qua đào tạo ừên tổng lực lượng lao động của TP.HCM chỉ chiếm 9%, tuy có cao hơn các địa phương khác trong so sánh, nhưng vẫn là một tỷ lệ thấp trong việc đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghiệp TP.HCM;

(ii) Khả năng tiếp cận đất đai của các doanh nghiệp tại TP.HCM còn thấp. Các ngành ít có lợi thế so sánh bao gồm dệt may, da giày, chế biến tinh lương thực thực phẩm do các ngành này có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, sử dụng nhiều lao động phổ thông, yêu cầu nhiều về đất đai. Tuy nhiên một số công đoạn của các ngành này mà TP.HCM có lợi thế so sánh là: (i) ngành dệt may: TP.HCM có lợi thế so sánh trong công đoạn thiết kế thời trang, sản xuất phụ kiện may mặc, và trung tâm phân phối sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may cho khu vực phía Nam; (ii) ngành da giày: TP.HCM có lợi thế so sánh trong công đoạn thiết kế mẫu mã giày dép – túi xách, sản xuất phụ kiện giày dép – túi xách, và trung tâm phân phối sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ngành da giày cho khu vực phía Nam; (iii) ngành chế biến tinh lương thực thực phẩm TP.HCM có lợi thế so sánh trong công đoạn máy móc, thiết bị, bao bì nhựa phục vụ cho ngành chế biên tinh lương thực thực phẩm và trung tâm phân phối sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ngành lương thực thực phẩm (hương liệu, phụ gia thực phẩm, …) cho khu vực phía Nam. Lý do là các công đoạn này có yêu cầu về lao động trình độ cao – là lợi thế của TP.HCM so với các địa phương khác, không yêu cầu nhiều về đất đai và tương đối thân thiện với môi trường.

2.3. Các điều kiện cầu

TP.HCM với vai trò là trung tâm kinh tế, công nghiệp lớn nhất nước, tạo cơ hội thị trường lớn để tiêu thụ sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Theo Nghị quyết 16-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 10/8/2012 nhấn mạnh: “Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt, một trung tâm lớn về kinh tế, văn hoá, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, đầu mối giao lưu và hội nhập quốc tế, là đầu tàu, động lực, có sức thu hút vầ sức lan toả lớn của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị trí chính trị quan trọng của cả nước.”

TP.HCM có lợi thế vượt ừội về số lượng doanh nghiệp và giá trị sản xuất công nghiệp của 4 ngành công nghiệp trọng yếu và 2 ngành công nghiệp truyền thông so với các địa phương so sánh, số doanh nghiệp 6 ngành gấp 6 lần Bình Dương, gấp 8 lần Đồng Nai, và gấp 34 lần Trung bình ĐBSCL. Giá trị sản xuất công nghiệp của 6 ngành công nghiệp cũng gấp 1,9 lần Bình Dương, gấp 1,3 lần Đồng Nai, và gấp 18 lần Trung bình ĐBSCL. Điều này tạo nên nhu cầu lớn cho các sản phẩm công nghiệp hồ trợ.

Xuất phát từ những lợi thế về “Các điều kiện cầu” kể ừên, TP.HCM có lợi thế so sánh phát triển ngành Cơ khí vì có sự tập trung rất đông doanh nghiệp ngành Cơ khí (3.659 doanh nghiệp), sẽ là dung lượng thị trường lớn cho các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí; đồng thời sẽ là điều kiện để hình thành các cụm công nghiệp cơ khí như cụm công nghiệp cơ khí ô tô. Ngoài ra, TP.HCM có lợi thế so sánh phát triển ngành điện tử – công nghệ thông tin vì có sự tập trung đông đảo các doanh nghiệp (257 doanh nghiệp), ừong đó có những doanh nghiệp lớn như Samsumg, Intel, Nidec, là những “điều kiện cầu” sản phẩm công nghiệp hỗ trợ rất lớn. TP.HCM cũng có có lợi thế so sánh phát triển ngành nhựa kỹ thuật và cao su kỹ thuật phục vụ cho nhu cầu lớn của ngành cơ khí chế tạo và điện tử – công nghệ thông tin.

TP.HCM hiện tập trung đông đảo các doanh nghiệp dệt may, da giày, chế biến tinh lương thực thực phẩm, Tuy nhiên, TP.HCM đang gặp phải những bất lợi trong phát triến những ngành này do chi phí lao động phổ thông tăng cao, đất đai hạn chế, các quan ngại về ô nhiễm môi trường.

Do vậy, đối với 3 ngành này, TP.HCM nên tập trung vào một số công đoạn có lợi thế phát triển:

(i) Thiết kế đối với dệt may, da giày;

(ii) Sản xuất phụ kiện may mặc, giày dép, túi xách;

(iii) Trung tâm phân phối sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may, da giày, ngành lương thực thực phẩm (hương liệu, phụ gia thực phẩm, …) vì các công đoạn này có điều kiện cầu là các doanh nghiệp hiện hữu lớn và các khó khăn nêu trên không quá lớn. Các công đoạn khác như dệt nhuộm, thuộc da, nguyên liệu phục vụ chế biến tinh lương thực thực phẩm TP.HCM phải thực hiện liên kết vùng với các địa phương khác.

  • Các dịch vụ hỗ trợ

TP.HCM vị trí địa lý thuận lợi, nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là trung tâm của 3 vùng bao gồm: Vùng đồng bằng sông Cửu Long (có thế mạnh về sản xuất lương thực, nuôi trồng thủy sản, du lịch sinh thái), Vừng Đông Nam bộ (có thế mạnh về sản xuất công nghiệp, cảng biển, cây công nghiệp) và Vùng Tây nguyên (có thế mạnh về khoáng sản, cây công nghiệp, thủy sản). TP.HCM nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, cửa ngõ giao lưu quốc tế thông qua biển Đông nên có nhiều lợi thế to lớn về giao lưu kinh tế – văn hóa với các nước trong khu vực bằng đường biển và hàng không. Không chỉ có vị trí địa lý thuận lợi, TP.HCM còn có lợi thế vượt trội so với các địa phương khác khu vực phía Nam về kết nối, hạ tầng giao thông.

24.1. Đường bộ

TP.HCM có kết nối bằng đường bộ tốt với các tỉnh trong vùng trọng điểm kinh tế phía Nam thông qua hệ thống đường quốc lộ: Quốc lộ 1A, Quốc lộ 1K, Quốc lộ 13, Quốc lộ 22A (đường xuyên Á), Quốc lộ 52 (Xa lộ Ha Nội).’ Các tuyến đường đường vành đai 2, 3, 4 sẽ được hình thành trong tương lai sẽ gia tăng khả năng kết nối của TP.HCM với các tuyến giao thông chính trong vùng. Gần đây, một số tuyến đường cao tốc được đưa vào sử dụng nâng cao tốc độ di chuyển và khả năng vận chuyển hành khách, hàng hóa giữa TP.HCM và các tỉnh trong vùng trọng điểm kinh tế phía Nam. Đường cao tốc TP.HCM – Trung Lương dài 61,9 km, bao gồm hai hệ thống đường: Tuyến cao tốc (dài 39,8 km) và các tuyến đường nối (22,1 km) có tốc độ tối đa 120km/h, góp phần giảm tải đáng kể cho trục Quốc lộ 1A từ TP.HGM đi ĐBSCL, nâng cao năng lực vận chuyển hàng hóa, hành khách từ TP.HCM đi các tỉnh ĐBSCL và ngược lại. Ngoài ra, đường cao tốc TP.HCM – Long Thành – Dầu Giây (chính thức thông xe toàn tuyến tháng 2/2015 với tổng chiều dài 55 km), kết nối TP.HCM với Quốc lộ 51, sân bay quốc tế Long Thành và Quốc lộ 1. Tuyến cao tốc TP.HCM

  •  Long Thành – Dầu Giây giúp giao thông từ TP.HCM đi ngã ba Đầu Giây (Đồng Nai) và hướng đi Liên Khương (khu Yực Tây Nguyên) sẽ rút ngắn được 20 km, chỉ còn 1 giờ (trước đó 70 km, mất 3 giờ); đi huyện Long Thành (Đồng Nai) chỉ mất 20 phút và đi Vũng Tàu chỉ còn 1 giờ 20 phút đồng thời giảm 20%
  •  30% chi phí vận tải. Tuy nhiên, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đang chịu sức ép quá tải, đặc biệt các tuyền đường nội đô, trong khi đó ngân sách, nguồn lực cho đầu tư phát triển hạ tầng còn rất hạn chế.
    •  Cảng biển

TP.HCM có lợi thế về hệ thống cảng biển kết nối chặt chẽ với thương mại quốc tế. Hệ thống cảng thành phố Hồ Chí Minh là cảng tổng hợp Quốc gia, đầu mối khu vực (loại I), gồm các khu bến chính: Khu bến trên sông Sài Gòn; khu bến Cát Lái trên sông Đồng Nai; khu bến trên sông Nhà Bè; khu bến Hiệp Phước trên sông Soài Rạp; khu bến cảng thuộc tỉnh Long An, Tiền Giang trên sông Soài Rạp.

Hiện nay cụm cảng Thành phố Hồ Chí Minh có 38 cảng với chiều dài gần 13km đang khai thác, trong đó có một số cảng lớn, đảm trách phần lớn thị phần vận tải biển của cả nước như Tân Cảng-Cát Lái, Cảng Sài Gòn, Cảng Container Trung tâm Sài Gòn (SPCT)… Trong đó cảng Cát Lái hiện chiếm thị phần trên 85% sản lượng container xuất nhập khẩu thông qua các Cảng tại khu vực TP HCM (đạt 3,6 triệu THƯ năm 2014) và đứng trong Top 40 Cảng container có sản lượng thông qua lớn nhất trên thế giới.

  • Đường hàng không

về giao thông đường không, sân bay quốc tế Tân Scm Nhất là sân bay lớn nhất Việt Nam. Năm 2014, lượng hàng hóa vận chuyển qua sân bay Tân Sơn Nhất là 412 triệu tấn hàng hóa (275 triệu tấn hàng hóa bay quốc tế và 137 triệu tấn hàng hóa bay nội địa), 22,1 triệu lượt khách (9,1 triệu lượt khách bay quốc tế và 13 triệu khách bay nội địa) (NGTK TP.HCM, 2014)’. Tuy nhiên, chất lượng dich vụ sân bay Tân Sơn Nhất nằm trong top 10 sân bay tệ nhất thế giới (xếp vị trí thứ 8) (theo bảng xếp hạng năm 2015 của trang web The Guide to Sleeping in Airports). Các hạn chế được chỉ ra từ nhiều người tham gia khảo sát là cán bộ xin hối lộ để được giải quyết nhanh hơn; những ai từ chối hối lộ ngay lập tức bị xử lý chậm chạp hoặc làm trì hoãn một số thủ tục giấy tờ của hành khách. Một số than phiền khác về tín hiệu wifi nghèo nàn, nhà vệ sinh dơ bẩn và không nhiều lựa chọn nhà hàng. Ngoài ra, nguyên nhân khách quan là sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đang ngày càng trở nên quá tải, hàng năm tăng thêm 2-3 triệu lượt hành khánh. Do vậy, điểm nghẽn này chỉ có thể giải quyết triệt để khi sân bay quốc tế Long Thành đi vào hoạt động.

Tóm lại, trong trụ cột các dịch vụ hỗ trợ, TP.HCM có các lợi thế so sánh về kết nối bằng đường bộ tốt với các tỉnh trong vùng trọng điểm kinh tế phía Nam; đặc biệt một số tuyến đường cao tốc mới được đưa vào sử dụng nâng cao tốc độ di chuyển và khả năng vận chuyển hành khách, hàng hóa giữa TP.HCM và các tĩnh trong vùng đáng kể; đây là lợi thế mới hình thành trong thời gian gần đây của TP.HCM so với các địa phương so sánh. Các ưu thế về cảng biển và kết nối hàng không của TP.HCM là vượt trội. Tuy nhiên, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đang chịu sức ép quá tải, đặc biệt các tuyến đường nội đô, trong khi đó ngân sách, nguồn lực cho đầu tư phát triển hạ tầng còn rất hạn chế. Ngoài ra, cần có những cố gắng hơn nữa để nâng cao chất lượng phục vụ ở sân bay Tân Sơn Nhất. Với lợi thế giao thông này TP.HCM có lợi thế thực hiện liên kết vùng với các tỉnh Đông nam bộ và các tỉnh thuộc vùng ĐBSCL.

3. Các kiến nghị về liên kết vùng cho TP.HCM

3.1. Sự cần thiết về liên kết vùng của TP.HCM

  •  Quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực tự nhiên chủ yếu là nguồn tài nguyên nước và bảo vệ môi trường trong xử lý chất thải.
  •  Huy động hiệu quả nguồn vốn đầu tư của xã hội cho cơ sở hạ tầng sử dụng chung theo hướng kết nối tốt nhằm giảm chi phí vận chuyển giữa các địa phương ừong vùng để giải quyết bài toán liên kết nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế.
  •  Thực hiện các liên kết kinh tế backward/forward thông qua liên kết cụm công nghiệp của TP.HCM với các tỉnh khác.
  •  TP.HCM đóng vai trò cực tăng trưởng và tác động lan tỏa phát triển các tỉnh/địa phương phụ cận thể hiện vai trò dẫn đầu của mình về các mặt kinh tế/tri thức/công nghệ/đào tạo.

3.2. Kiến tạo một cơ chế đặc thù cho TP.HCM thực hiện tốt vai trò của TP.HCM trong Quy hoạch 252/QĐ-TTg ngày 13/2/2014 về liên kết Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

3.3. Vai trò của TP.HCM trong vùng được khẳng định trong Quy hoạch

  •  TP.HCM là trung tâm dịch vụ tầm cỡ khụ vực Đông Nam Á về tài chính, thương mại, du lịch, giao lưu quốc tế.
  •  TP.HCM là trung tâm giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao các cho Vùng lân cận và cả nước; đồng thời là trung tâm chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ hàng đầu của cả nước.   
  •  TP.HCM là trung tâm kinh tế tổng hợp đa chức năng với hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật hiện đại, đồng bộ ngang tầm với các quốc gia trong khu vực.
  •  TP.HCM kết nối với các đô thị vệ tinh, các huyện và với các đô thị ngoài vùng bằng hệ thống vận tải hành khách công cộng hiện đại.
  •  TP.HCM gắn kết với hành lang các đô thị tại các thị trấn huyện lỵ nằm ngoài ranh giới 50 km từ trung tâm TP.HCM là các cực phát triển, tạo điều kiện để phát triển khu vực nông thôn.

3.4.  Các nguyên nhân hạn chế liên kết vùng

  •  BCĐ vùng chưa làm tốt chức năng liên kết mà chủ yếu là thực hiện các nhiệm vụ chính trị.
  •  Tính pháp lý về các liên kết thực hiện giữa các địa phương trong vùng và ngoài vùng thấp.
  •  Nguồn lực hợp tác hạn chế do đó khả năng liên kết yếu và chủ yếu các liên kết hiện nay là các liên kết hình thành các chuỗi tự phát.
  •  Lợi ích riêng của từng địa phương là quá lớn/mang tính cục bộ thành tích; đây là một hạn chế rất lớn của hệ quả quá trình phân cấp và nâng cao tính tự quyêt/tự chịu trách nhiệm của địa phương và từ đó làm giảm hiệu quả hợp tác và phối hợp trong liên kết vừng.
  •  Hệ thống cơ sở dữ liệu vùng chưa hình thành, và nếu quy hoạch vùng là đã có hay có thì cũng chỉ mang tính hình thức vì địa phương khi xây dựng quy hoạch chưa sử dụng các quy hoạch vừng/địa phương phụ cận là các tham khảo quan trọng.
  •  Xây dựng cơ sở hạ tầng kết nối vùng chủ yếu dựa vào Chính phủ chứ địa phương chưa thực sự có liên kết.
  •  Các ngành chế biến/xuất khẩu có sử dụng nguyên liệu của các tỉnh khác trong các vùng theo cơ chế thị trường nhưng chưa được khuyến khích bằng thể chế.
  •  Cụm ngành/chuỗi theo cơ chế thị trường nhưng chưa được khuyến khích bằng thể chế.

3.5. Kiện toàn thể chế liên kết vùng quy định trong Quy hoạch

  •  Củng cố kiện toàn Ban Chỉ đạo, Vãn phòng Ban chỉ đạo điều phối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm để nâng cao chất lượng của hoạt động điều phối; đặc biệt là tăng cường hiệu quả hoạt động của Tô thường trực Ban Chỉ đạo điêu phối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm.
  •  Nâng cao chất lượng công tác phối hợp giữa các Bộ, ngành và các địa phương trong Vừng; xây dựng chương trình hành động cụ thể và phân công trách nhiệm rõ ràng đi kèm với đánh giá mức độ phối hợp của các cơ quan trong quá trình phối hợp thực hiện quy hoạch.
  •  Nghiên cứu ban hành cơ chế tài chính, ngân sách đặc thù đối với TP.HCM, tạo nguồn lực để TP.HCM đầu tư phát triển hạ tầng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của Thành phố và toàn vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

4. Kiến nghị

Cần có một thể chế thúc đẩy TP.HCM trở thành một cục tăng trưởng đảm bảo tính lan tỏa cho các vùng lân cận và cả nước. Hiện nay TP.HCM là mặc dù giữa vai trò đầu tàu trong cả nước và trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nhưng vẫn chủ yếu tuân thủ theo quản lý chung là một tỉnh/thành phố như các tỉnh thành khác. Bài viết kiến nghị cần phải thực hiện quy hoạch vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đã phê duyệt và phải đảm bảo một thể chế đặc thù nhằm các điều kiện cơ bản cho TP.HCM trong thực hiện liên kết vùng:

a) TP.HCM phải giữ vai trò chủ đạo trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và đóng vai trò tiên phong trong liên kết vùng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế và đảm bảo tính lan tỏa các thế mạnh về tri thức, chuyển giao công nghệ, đào tạo cho các địa phương khác;

b) TP.HCM phải được quy hoạch theo hướng quản trị đô thị mở thông qua hình thành các đô thị vệ tinh của Thành phố và kết nối với các đô thị khác của các tỉnh thuộc vùng;

c) Nguồn ngân sách phân bổ cho TP.HCM và cơ chế linh hoạt huy động xã hội hóa đủ để phát triển các đô thị vệ tinh kết nối với các tinh lân cận thuộc vùng.

4.1. Liên kết vùng phát triển công nghiệp

a. Cụm công nghiệp dệt may và da giày

Quy hoạch trong TP.HCM các công đoạn thân thiện với môi trường (thiết kế, logistics, thương mại, vải hoàn tất) có xử lý chất thải công nghiệp tập trung. Các công đoạn nguyên liệu như sợi – dệt nhuộm hoàn tất và thuộc da, lắp ráp thành phẩm thâm dụng lao động và mặt bằng sẽ bố trí theo hướng liên kết vùng (vừng ĐBSCL) hoặc thu hút DN FDI có trình độ công nghệ cao.

b. Cụm công nghiệp cơ khí và công nghiệp ô tô

Bố trí theo hai hướng: hình thành cụm công nghiệp cơ khí ô tô với doanh nghiệp sản xuất đầu cuối (SAMCO đang thực hiện thí điểm tại KCN Hòa Phú) dẫn đầu kết hợp cáe doanh nghiệp CNHT cho các chi tiết và linh kiện thâm dụng lao động và mặt bằng sẽ thực hiện liên kết vùng với các tỉnh Đông Nam Bộ và một số tỉnh thuộc ĐBSCL như Tiền Giang, Long An, Bến Tre.

  • Cụm ngành chế biển tình lương thực thực phẩm

Sẽ phát triển theo hướng liên kết với các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam để ổn định vùng nguyên liệu theo hướng liên kết vùng. Từng bước quy hoạch khu giết mổ công nghiệp gia súc tập trung của TP.HCM hoặc liên kết với các vùng nguyên liệu phụ cận (Đồng Nai, Long An, Tiền Giang) nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và đáp ứng nguyên liệu chế biến đạt chuân “sạch” và có “chứng nhận kiểm nghiệm”.

Chia sẻ