Đẩy mạnh chuỗi liên kết ngành, thu hút doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao phát triển

7

Trong đó, phải kể đến những thành tựu nổi bật như Việt Nam đã đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia và trở thành nước xuất khẩu nông sản đứng thứ hai Đông Nam Á, thứ 15 trên thế giới với 10 nhóm mặt hàng nông, lâm, thủy sản có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ đô la Mỹ, trong đó có 6 mặt hàng có kim ngạch trên 3 tỷ đô la Mỹ. Kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp năm 2018 đạt gần 40 tỷ USD.

Những thành tựu quan trọng nói trên có được là nhờ việc ban hành các chính sách đúng đắn, hiệu quả của Đảng và Nhà nước. Thời gian qua, cơ chế chính sách và khung pháp lý thu hút, tạo động lực cho các thành phần kinh tế đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn ngày càng được hoàn thiện. Trong đó, các doanh nghiệp đang là “trụ cột”, đầu tàu trong việc thúc đẩy phát triển chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao hiệu quả, năng lực cạnh tranh và phát triển thương hiệu nông sản Việt Nam.

 Chính phủ đã ban hành một loạt các chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn như ; (Nghị định số 57/2018/NĐ-CP thay thế Nghị định số 210/2013/NĐ-CP), chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn (Nghị định 116/2018/NĐ-CP sửa đổi Nghị định số 55/2015/NĐ-CP); chính sách bảo hiểm nông nghiệp (Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018): chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong hợp tác, liên kết sản xuất quy mô lớn (Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 05/7/2018 thay thế Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg), chính sách phát triển nông nghiệp công nghệ cao (Quyết định số 19/2018/QĐ-TTg ngày 19/4/2018 thay thế Quyết định số 69/2010/QĐ-TTg ngày 03/11/2010,) và chính sách khuyến khích hoạt động đổi mới sáng tạo; Chương trình tín dụng khuyến khích phát triển nông nghiệp cao, nông nghiệp sạch theo Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 07/03/2017của Chính phủ (“Gói tín dụng 100.000 tỷ”). Các Nghị định mới tập trung vào các cơ chế chính sách ưu đãi về sử dụng, thuê đất đai, mặt bằng kinh doanh, ưu đãi về thuế, hỗ trợ tín dụng, đào tạo lao động, phát triển thị trường, đầu tư cơ sở hạ tầng, ưu tiên hỗ trợ một số dự án đầu tư vào nông nghiệp nhất là các dự án về liên kết, chế biến sâu, ứng dụng CNC. Giảm thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; đẩy mạnh phân cấp về địa phương. Đặc biệt mới đây Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 53/NQ-CP ngày 17/7/2019 về Giải pháp khuyến khích, thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp hiệu quả, an toàn và bền vững.

Hệ thống doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn đã hình thành với trên 50 nghìn doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, bao gồm cả sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm, kinh doanh vật tư nông nghiệp, nông sản, các dịch vụ phục vụ phát triển nông nghiệp, trong đó có khoảng 10.200 doanh nghiệp trực tiếp đầu tư phát triển sản xuất nông, lâm, thủy sản. Đối với thực hiện liến kết sản xuất và tiêu thù sản phẩm nông nghiệp theo chỗi Bộ Nông nghiệp và PTNT đã tổng kết thực hiện Nghị định số 98/2018/NĐ-CP thì  tính đến tháng 4/2019 cả nước 63/63 tỉnh thành đã thành lập 1.254 chuỗi với 1.452 sản phẩm và 3.172 địa điểm bán sản phẩm nông nghiệp đã kiểm soát theo chuỗi.

Tuy nhiên, sự phát triển của các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp còn rất khiêm tốn so với tiềm năng, lợi thế phát triển, số doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp hiện chỉ chiếm 8% tổng số doanh nghiệp trên cả nước, trong đó số doanh nghiệp nông lâm, thủy sản chiếm 1%. Hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp chủ yếu hiện nay vẫn ở dạng hộ sản xuất với hơn 9,2 triệu hộ với quy mô rất nhỏ. Quy mô các doanh nghiệp chủ yếu là nhỏ và siêu nhỏ, chiếm 96% số các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp. Năng suất lao động ngành nông nghiệp còn hạn chế, chỉ bằng khoảng 38% năng suất lao động bình quân chung cả nước và thấp hơn hầu hết các nước trong khu vực. Trình độ khoa học và công nghệ của các doanh nghiệp còn thấp, ứng dụng khoa học công nghệ và các tiêu chuẩn chất lượng quốc gia, quốc tế còn hạn chế, chỉ có gần 5% số doanh nghiệp nông lâm thủy sản được cấp chứng nhận VietGAP và tương đương. Thị trường tiêu thụ không bền vững; kênh tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi với các nhà phân phối bán lẻ lớn còn hạn chế; số doanh nghiệp tham gia sản xuất theo chuỗi giá trị còn ít; rào cản về kỹ thuật, chất lượng của thị trường quốc tế ngày càng khắt khe. Tăng trưởng và phát triển nông nghiệp trong vài thập kỷ qua chủ yếu vẫn dựa vào nguồn lực con người và tài nguyên thiên nhiên. Điều này làm cho nông nghiệp phát triển thiếu bền vững, quy mô nhỏ lẻ, sản xuất thiếu liên kết đặc biệt là liên kết giũa các ngành trồng trọt, chăn nuôi, chế biến thức ăn, các dịch vụ trong nông nghiệp, Logistic chưa tạo thành mối liên kết khép kín và bền vững, tổn thất sau thu hoạch còn cao nhiều phụ phẩm nông nghiệp chưa được tận dụng nên lãng phí thậm chí gây ô nhiễm môi trường dẫn đến chi phí sản phẩm trong nông nghiệp cao… Cộng với hiện nay,  tình hình biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, tình trạng xâm nhập mặn, lũ lụt, hạn hán… đã ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển nền nông nghiệp, ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng hàng hóa nông sản, kéo giảm năng lực cạnh tranh của ngành nông nghiệp.

Trong bối cảnh đất nước đang hội nhập sâu rộng đòi hỏi ngành nông nghiệp phải sản xuất hàng hóa lớn, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, tái cơ cấu ngành nông nghiệp, đẩy mạnh phát triển ứng dụng CNC trong nông nghiệp, hợp tác liên kết ngành tạo ra chuỗi giá trị bền vững, hiệu quả có giá trị gia tăng cao là đòi hỏi tất yếu của một nền nông nghiệp hiện đại.

 Đối với các tỉnh Vùng KTTĐPN gồm 8 tỉnh, thành phố: TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang, Tây Ninh và Bình Phước. Tuy diện tích chỉ chiếm 9,2% và dân số chiếm 21% của cả nước, nhưng GRDP của vùng chiếm hơn 45% cả nước, đóng góp trên 42% tổng thu ngân sách. Với Mục tiêu phát triển Vùng  trở thành vùng kinh tế động lực đầu tàu, phát triển năng động với chất lượng tăng trưởng cao và bền vững. Trong đó, phát triển nông nghiệp toàn diện, bền vững theo hướng sản xuất hàng hóa lớn với hình thức tổ chức sản xuất và kỹ thuật hiện đại. Chú trọng phát triển nông nghiệp sinh thái, thân thiện môi trường và nâng cao chất lượng sản phẩm. Xây dựng vùng thành trung tâm giống quốc gia với các cơ sở nghiên cứu thực nghiệm, ứng dụng công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, đầu mối tiếp nhận, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp, xây dựng thương hiệu cho một số nông sản có thế mạnh và đặc trưng.

Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế vùng đang có xu hướng lùi trở lại, giai đoạn 2016-2018 chỉ ngang mức bình quân cả nước, trong khi những năm 2011-2015 gấp khoảng 1,5 lần. Để thúc đẩy phát triển nông nghiệp Vùng KTTĐPN vẫn còn nhiều hạn chế. Vùng KTTĐPN cũng như cả nước chỉ có 1% tổng số doanh nghiệp (DN) đầu tư vào nông nghiệp với số vốn chỉ chiếm gần 3% tổng số vốn đầu tư của cộng đồng DN vào sản xuất, kinh doanh. Trong đó, 90% số DN nhỏ và vừa với số vốn dưới 10 tỷ đồng. Đáng chú ý, hơn 80% số DN gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình tìm hiểu và áp dụng nông nghiệp. Hầu hết DN nông nghiệp đều là DN nhỏ và vừa, chiếm số lượng lớn là các hợp tác xã (HTX).

Do đó, để khắc phục tình trạng này cần có những rà soát, đánh giá tổng thể, nhận diện các vấn đề cốt lõi, các nguyên nhân cụ thể, từ đó, có đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm phát triển doanh nghiệp nông nghiệp, đẩy mạnh liên kết ngành, thu hút các doanh nghiệp đầu tư ứng dụng CNC, tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

Với những kết quả đã đạt được và những hạn chế thách thức như đã trình bày trên để đẩy mạnh chuỗi liên kết ngành và khuyến khích đầu tư CNC trong nông nghiệp Trong đó, các doanh nghiệp phải là “trụ cột”, đầu tàu trong việc thúc đẩy phát triển chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao hiệu quả, năng lực cạnh tranh và phát triển thương hiệu nông sản Việt Nam, xin đề xuất một số giải pháp cơ bản như sau:

Một là : Hoàn thiện cơ chế chính sách về đất đai tạo điều kiện cho việc tích tụ, tập trung đất đai sản xuất quy mô lớn.

Do hiện nay hầu hết đất đai canh tác trong nông nghiệp đều chia cho các hộ gia đình có lịch sử từ thời khoán 10 của thập niên 90 đất giao cho các hộ có thời hạn 30 năm rất nhỏ lẻ, manh mún, Luật Đất đai hiện hành còn nhiều vấn đề bất cập trong đó có quy định về “hạn điền” ( Điều 129 Luật Đất đai 2013)  chưa được sửa đổi đang còn là rào cản hạn chế cho việc ban hành một cơ chế chính về tích tụ đất đai  do đó việc các doanh nghiệp muốn có đất để sản xuất lớn , áp dụng CNC gặp rất nhiều khóa khăn bản thân chính quyền địa phương cũng rất mong muốn các DN đầu tư nhưng chưa có cơ sở pháp lý cho viêc thực hiện hài hòa lợi ích người dân, doanh nghiệp khi tích tụ đất đai để sản xuất lớn và ứng dụng CNC. Chính sách quản lý đất nông nghiệp mà cụ thể là đất trồng lúa còn bất cập (Điều 58 Luật Đất đai 2013 điều kiện giao đất cho thuê đất cho phép chuyển mục địch sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư; Nghị đinh  35/2015/ NĐ-CP về quản lý sử dụng đất lúa). Cứ 10 ha đất  lúa phải có chấp thuận của TT Chính phủ giới 10ha chấp thuận HĐND cấp tỉnh gây khó khăn cho DN, nhà đầu tư .  Hạn chế cho việc thức đẩy cây trồng vật nuôi. Hiện nay, về lương thực  nông nghiệp đã đảm bảo được an ninh lương thực ngoài ra hàng năm còn xuất khẩu từ 4,5 – 6 triệu tấn gạo do vậy cần chuyển đổi một phần diễn tích lúa ( khoảng 500- 700 ngàn ha) sang cây trồng vật nuôi có giá trị cao hơn. Do đó cần thay đổi quan điểm “giữ dất lúa” sang “giữ đất nông nghiêp”.

Do đó Chính phủ cần đề xuất sớm sửa đổi Luật Đất đai để tạo hành lang pháp lý cho việc tích tụ, tập trung đất đai để sản xuất nông nghiệp quy mô lớn.

Hai là : Tạo quỹ đất quy mô lớn kêu gọi doanh nghiệp đầu tư CNC vào nông nghiệp.

Trong thời gian qua nhiều doanh nghiệp trở thành nòng cốt của chuỗi giá trị và sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, phát triển thị trường. Bên cạnh sự đầu tư, phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, một số tập đoàn, doanh nghiệp lớn đã đẩy mạnh đầu tư vào nông nghiệp, nhất là nông nghiệp ứng dụng CNC, tập đoàn Vineco;  Nafoods, TH, Dabaco Việt Nam, Masan, Lavifood, Công ty TPXK Đồng Giao, … tuy nhiên những doanh nghiệp lớn đã đầu tư vào nông nghiệp đang rất khiêm tốn. Nhiều doanh nghiệp rất muốn đầu tư vào nông nghiệp nhưng điều khó khăn nhất và đầu tiên đó là “Quỹ đất sạch” . Việc tìm quỹ đất đầu tư cho đúng với quy hoạch phát triển của địa phương và phù hợp với mục tiêu đầu tư của doanh nghiệp đã khó việc có quỹ đất sạch cho doanh nghiệp đầu tư còn khó khăn gấp bội phần chính vấn đề này đã làm nản lòng các doanh nghiệp muốn đầu tư CNC vào nông nghiệp.

Do vậy, Nhà nước cần có cơ chế giao cho các địa phương ( cấp tỉnh, thành phố) quy hoạch các khu, vùng nông nghiệp sản  xuất sản phẩm nông nghiệp CNC và điều quan trong là tạo quỹ đất sạch trước khi kêu gọi DN đầu tư thay vì cứ kêu gọi đầu tư rồi sau này giao cho doanh nghiệp tự lo giải phóng mặt bằng, tự thỏa thuận còn địa phương chỉ hỗ trợ dẫn đến chậm tiến độ làm nản lòng DN.

Ba là: Nhà nước cần ban hành một cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư quy mô lớn vào nông nghiệp .

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 57/2018/NĐ-CP thay thế Nghị định số 210/2013/NĐ-CP về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn  Nghị định mới tập trung vào các cơ chế chính sách ưu đãi về sử dụng, thuê đất đai, mặt bằng kinh doanh, ưu đãi về thuế, hỗ trợ tín dụng, đào tạo lao động, phát triển thị trường, đầu tư cơ sở hạ tầng đến hàng rào doanh nghiệp, ưu tiên hỗ trợ một số dự án đầu tư vào nông nghiệp nhất là các dự án về liên kết, chế biến sâu, ứng dụng CNC. Giảm thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; đẩy mạnh phân cấp về địa phương. Tuy nhiên những ưu đãi của nhà nước đối với DN đầu tư vào nông nghiệp bằng nguồn vốn ngân sách chủ yếu tập trung hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ do nguồn vốn NS còn hạn hẹp. Đối với các doanh nghiệp lớn cái mà họ cần không phải là sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước mà cái họ cần là từ cơ chế chính sách như hỗ trợ về miễn, giảm tiền thuê đất, hỗ trợ miễn, giảm thuế,  Quỹ đất có quy mô lớn và cơ chế vốn vay cho doanh nghiệp đầu tư quy mô lớn vào nông nghiệp.  Trong đó thì như cầu về Quỹ đất có quy mô lớn và cơ chế vốn vay cho doanh nghiệp đầu tư quy mô lớn vào nông nghiệp thì Nghị định 57/2018/NĐ-CP chưa đáp ứng được Do vậy, chính phủ cần ban hành một chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư quy mô lớn vào nông nghiệp trong đó tập trung chủ yếu vào các nội dung tích tụ đất đai, có chế vay vốn cho DN đầu tư quy mô lớn còn các chính sách khác đã có trong Nghị định 57/2018/NĐ-CP.

Nếu chính phủ ban hành được các cơ chế chính sách để thực hiện tốt các giải pháp cơ bản trên tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp đầu tư quy mô lớn vào nông nghiệp chắc chắn nông nghiệp Việt Nam sẽ đạt được mục tiêu tầm nhìn đến năm 2030 mà Nghị Quyết số 53/2019/NQ-CP ngày 17/7/2019 của Chính phủ đề ra cho ngành nông nghiệp Việt Nam.

Ông Đặng Vũ Trân  
Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý Doanh nghiệp,
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Chia sẻ