Cộng sinh vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

7

Luôn tồn tại lợi ích chung giữa các địa phương trong một vùng kinh tế. Lợi ích ấy càng ràng buộc, gắn bó trong không gian mở nhưng ranh giới địa lý và quy mô mỗi địa phương khá nhỏ như ở vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam-Việt Nam.

Lợi ích chung của vùng kinh tế

TS Vũ Thành Tự Anh Giám đốc Trường Chính sách công và quản lý Fulbright; Đại học Fulbright Việt Nam

Để các tỉnh có liên kết với nhau, cần có lợi ích chung. Và điều đó thể hiện ở một số các yếu tố như sau:

Thứ nhất, lợi ích chung về kinh tế. Tăng trưởng kinh tế của địa phương này có tính lan tỏa, giúp địa phương kia tăng trưởng tích cực hơn và ngược lại. Ví dụ tại vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam, hễ kinh tế Tp Hồ Chí Minh tăng trưởng thì kinh tế của các địa phương trong vùng cũng sẽ được hưởng hiệu ứng lan tỏa và tăng trưởng tích cực hơn. Điều đó nhờ vào tính liên kết địa lý tự nhiên của các địa phương trong vùng.

Thứ hai, là liên quan lợi ích của cộng đồng đầu tư. Cụ thể nếu như có một địa phương nào trong vùng cải thiện được môi trường đầu tư thông thoáng, thu hút được doanh nghiệp, thì sự lan tỏa ấy bắt đầu mở ra các địa phương khác. Ví dụ cụ thể ở những năm 90’s thế kỷ XX trước đây, khi Tp Hồ Chí Minh và Bình Dương nổi lên như những địa phương hấp dẫn thu hút nhà đầu tư, thì tính lan tỏa lập tức tỏa ra và có hiệu ứng dài, như sự lan tỏa về thu hút đầu tư đến tận Long An, tiếp đó là tới Tiền Giang, hay đến Tây Ninh và các địa phương khác. Tính lan tỏa về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cũng là điều hết sức tự nhiên, tất yếu bởi thông thường các nhà đầu tư nói chung sẽ chọn những vị trí nào có thể tạo ra được tính cộng hưởng lớn nhất, tạo ra được quy mô thị trường lớn nhất. Nơi đó thường cũng sẽ là nơi có môi trường kinh doanh tốt, hạ tầng tốt, nguồn nhân lực sẵn sàng. Khi một địa phương đã nâng được mình lên rồi thì sức lan tỏa sẽ hỗ trợ cho các địa phương khác cùng phát triển.

Thứ ba, là sự liên kết về hạ tầng. Khi một địa phương có khả năng phát triển về cơ sở hạ tầng, thì các địa phương khác chỉ cần kết nối vào cơ sở hạ tầng sẵn có đó, không phải tự mình đầu tư xây dựng từ đầu.

Thứ tư, là sự phối hợp với nhau của các địa phương trong vùng để tổ chức, thúc đẩy hoạt động xúc tiến đầu tư. Khi các địa phương phối hợp với nhau, có thể tạo thuận lợi thương mại, tăng sức hấp dẫn đầu tư của cả vùng trên cơ sở phân bổ lĩnh vực xúc tiến đầu tư phù hợp với lợi thế của từng địa phương và địa phương này lại bổ trợ cho địa phương khác. Đó là lợi ích chung của cả vùng. Lại ví dụ nếu chỉ riêng TP Hồ Chí Minh đi xúc tiến thương mại, thì điều đó cũng phần nào sẽ có tác dụng thu hút đầu tư cho cả vùng và ngược lại. Trên cơ sở đó, nếu các địa phương cùng phối hợp nhau, thông qua một cơ chế được thống nhất điều phối bởi Hội đồng vùng, tạo ra một chu trình xúc tiến đầu tư thương mại chung; thì điều đó sẽ tạo ra một tổng thể. Có rất nhiều ví dụ chi tiết hơn. Như ở góc độ nguồn nhất lực, trong một thể thống nhất của kinh tế vùng, không nhất thiết tỉnh nào cũng phải có năm, bảy trường Đại học mà nhu cầu tự nhiên và có sự thống nhất sẽ có sự hình thành các Trung tâm giáo dục, Trung tâm đào tạo cho cả vùng.

Tương tự như vậy đối với lĩnh vực tài chính. Nếu như trong lĩnh vực Tài chính mà Bình Dương và Đồng Nai cũng cạnh tranh với TP Hồ Chí Minh để phát triển các trung tâm tài chính, thì điều đó sẽ không phù hợp các quy luật và rất lãng phí. Bởi tất cả những điều đó đều cần có sự kết nối, chia sẻ giữa các địa phương.

3 cấp độ và chủ thể của liên kết vùng kinh tế

Tuy nhiên, sự kết nối của các địa phương trong vùng kinh tế, phải xuất phát từ cả 3 cấp độ:

Thứ nhất, là cấp độ của Trung ương: Chính quyền Trung ương thông qua các cơ chế về quy hoạch vùng, thông qua các cơ chế về thành lập các Hội đồng điều phối vùng, thông qua cơ chế để “cương chế” – tạo cơ chế để việc triển khai một cách có hiệu quả và hiệu lực các cơ chế này. Cùng với đó là cơ chế về tài chính để vùng có một cơ sở tài chính cho các hoạt động.

Pháp luật Ngân sách (Luật Ngân sách) hiện nay không có quy định về cơ chế tài chính cho vùng, chỉ có hai cấp ngân sách: Ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương. Khi không có cơ chế tài chính, ngân sách cho vùng, thực sự rất khó cho mọi hoạt động. Ví dụ vùng cần có ngân sách để triển khai một hoạt động đầu tư, hoặc một công việc chung cho vùng, lúc đấy lại đi đòi hỏi cho sự đóng góp của từng địa phương; trong khi đóng góp của từng địa phương vào ngân sách lại đã làm rồi. Hơn nữa không thể cứ mỗi một hoạt động chung của vùng lại đi kêu gọi đóng góp của từng địa phương? Nếu chúng ta có một cơ chế , chẳng hạn mỗi năm có bao nhiêu phần trăm thuế trích ra từ các địa phương để đóng vào ngân sách chung cho vùng hoạt động theo cơ chế chính sách điều phối vùng được giao, thì sẽ thuận lợi hơn cho hoạt động phát triển kinh tế vùng. Nếu cứ trông chờ vào sự đóng góp của từng địa phương hay sư “hảo tâm” của Mạnh Thường Quân, thì các yếu tố nguồn lực tài chính đó đều rất tùy nghi, thiếu bền vững.

Thứ hai, là cấp vùng. Trước nay chúng ta vẫn có các Hội đồng vùng ở các vùng kinh tế, có cơ chế vùng, nhưng các cơ chế này thiếu hiệu lực và không hiệu quả. Như vậy, nếu như ở cấp Trung ương, điều kiện là tạo ra cái khung, thì ở cấp vùng, trong khung ấy, tạo cơ chế cụ thể và phát triển thành các chiến lược, các chương trình hành động cụ thể. Đến thời điểm này, các cơ chế điều phối của vùng phải nói thành thật là đang “hữu danh vô thực” – có tồn tại nhưng không hoạt động hiệu quả.

Thứ ba, là các địa phương. Bản thân các địa phương ai cũng nhìn thấy liên kết vùng là quan trọng. Và thực tế, ai cũng thấy có sự cộng sinh giữa mình và các địa phương khác. Không ai phủ nhận liên kết vùng là không hiệu quả. Nhưng đến lúc phải đặt vấn đề liên kết vùng lên trên bàn hoặc khi phải thực hiện các biện pháp liên kết vùng, triển khai các hành động cụ thể, thì các địa phương lại chạy theo lợi ích cục bộ. Tức là Trung ương có thể làm tốt, vùng có thể làm tốt nhưng nếu đến địa phương làm không tốt thì chiến lược phát triển kinh tế vẫn không hiệu quả. Hay nói cách khác đây là một hiệu ứng tổng thể và muốn vỗ tay ra âm thanh lớn, thì phải có hai bàn tay cùng vỗ. Nếu nỗ lực chỉ từ một phía là không đủ. Và đó là một phía từ cấp chính quyền.

Ở phía doanh nghiệp – chủ thể chính của liên kết kinh tế vùng suy đến cùng vẫn là doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp không tạo được sự liên kết trong chuỗi giá trị, không tạo được sự liên kết thông qua mạng lưới chuỗi sản xuất của mình, hay còn gọi là các doanh nghiệp không tạo ra được sự liên kết về mặt giao thương giữa các doanh nghiệp với nhau; và bên cạnh đó các Hiệp hội không đứng ra làm đầu mối để hỗ trợ và nuôi dưỡng sự liên kết này, thì Chính phủ, chính quyền có thể làm rất tốt nhưng đến lúc doanh nghiệp không chớp được các cơ hội, cũng không tạo được các giá trị để tận dụng được liên kết vùng và các vùng.

Như vậy nhìn dưới góc độ cả Trung ương, vùng, địa  phương lẫn doanh nghiệp, thì sẽ thấy có sự cộng sinh sâu sắc giữa cả 4 đối tượng này. Cụ thể nếu như vùng phát triển, từng địa phương sẽ phát triển nhờ các hiệu ứng lan tỏa, thì từ đó sẽ tạo thêm nhiều cơ hội cho doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp có thêm cơ hội, thì không gian, mảnh đất phát triển của họ sẽ rộng hơn, đóng góp cho kinh tế, kinh doanh, giao thương tốt hơn. Tất cả hiệu ứng ấy sẽ tạo sức mạnh cho nền kinh tế quốc gia ở cả đóng thuế, kim ngạch xuất nhập khẩu, giao thương .v.v Đó là sự cộng sinh giữa khu vực công và khu vực tư, giữa các cấp khác nhau, giữa doanh nghiệp với Hiệp hội…Nếu cơ chế này hoạt động được một cách hiệu quả và hiệu lực, thì đây sẽ là một hình thức hợp tác mà tất cả cùng có lợi.

Chỉ có điều là, như thực tế, cơ chế này vẫn còn thiếu hiệu quả và hiệu lực. Ngoài ra cơ chế này cũng còn bị ràng buộc bởi những thể chế và cơ chế hiện hành. Ví dụ đầu tiên, ranh giới-địa giới hành chính trùng với địa giới về kinh tế. Hay nói cách khác, mỗi địa phương đều chạy theo GDP của địa phương mình. Từ đó, sẽ bỏ quên mất mình đang nằm trong vùng và có trách nhiệm đóng góp chung cho vùng. Ví dụ thứ 2, thiếu cơ chế tài chính để đóng góp cho vùng, vẫn phải trông chờ vào sự “hảo tâm”. Ví dụ thứ 3, khi có cơ chế, vẫn thiếu cơ chế thi hành. Ví dụ một địa phương không tuân theo quy hoạch của vùng, thì không có cơ chế cưỡng chế, địa phương đó cũng không sao. Các địa phương làm tốt, tích cực, cũng không có chuyện gì xảy ra. Nói cách khác là có làm tốt hay không làm tốt cũng…không có chuyện gì xảy ra. Nếu mà cơ chế hợp tác như thế, hiển nhiên sẽ không thể khuyến khích cơ chế hợp tác vùng. Chính vì vậy, khi hợp tác không được, những tiềm năng của sự cộng hưởng, cộng sinh sẽ bị xói mòn.

Cần nói thêm là Luật ngân sách liên quan đến Hiến pháp. Hiến pháp Việt Nam hiến định: Chính quyền chỉ có 2 cấp, chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương (quận, huyện, xã, phường). Đi đôi với chính quyền địa phương có Luật các tổ chức chính quyền địa phương. Khi đã hiến định như thế, sẽ rất khó khi đặt ra vấn đề tạm gọi là một cấp chính quyền trung gian (cấp vùng). Chính vì vậy đây luôn là cuộc tranh luận kéo dài.

Có thể thấy chúng ta có Luật ngân sách, nhưng Luật ngân sách không tương thích với các Luật khác. Ví dụ khi Luật quy hoạch đưa ra nội dung quy định về quy hoạch vùng, nhưng Luật ngân sách lại chỉ ra  ngân sách cho địa phương, không có ngân sách vùng, cùng với đó là Luật các tổ chức chính quyền địa phương – thì 2 Luật này không mâu thuẫn nhau nhưng thiếu sự bổ trợ cho nhau. Chúng ta sẽ rất khó đặt vấn đề hợp tác phát triển vùng khi Chính quyền vùng mà ngân sách địa phương. Cuối cùng lại vẫn phải dựa vào các cơ chế mềm, có tính chất tự nguyện.

Ở góc độ chiến lược phát triển kinh tế, quy hoạch vùng một lần nữa cần được khẳng định là vô cùng cần thiết, là tốt, nhưng còn cần được sự bổ trợ của các quy định khác, như 2 Luật nêu trên (hiện đang áp dụng theo Hiến pháp). Dù khó, vẫn phải đặt ra chuyện quy hoạch và vận động kinh tế vùng, bởi sớm hay muốn nếu Việt Nam mong muốn phát triển dài lâu hơn nữa, vẫn sẽ phải đi theo xu hướng này.

Nhìn ra thế giới, gần với Việt Nam là Trung Quốc, với địa giới hành chính và địa giới kinh tế quá rộng, việc phân cấp kinh tế theo địa phương là phù hợp. Nhưng với quy mô của các địa phương, 63 tỉnh thành Việt Nam, nếu không phân vùng, không “nhóm” lại, quy hoạch lại theo kinh tế vùng, thì sẽ bị phân mảnh và 63 tỉnh thành cứ mãi cạnh tranh hàng ngang với nhau.

Theo enternews

Chia sẻ