Cơ chế, chính sách phát triển vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

1

Văn bản pháp luật đầu tiên hình thành cơ sở pháp lý cho việc thành lập Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (Vùng KTTĐ phía Nam) là Quyết định 44/1998/QĐ-TTg ngày 23/2/1998 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể kinh tế – xã hội Vùng KTPN giai đoạn 1999-2010. Từ đó đến nay, đã có một số văn bản về Vùng KTTĐ phía Nam được ban hành. Ngày 29 tháng 8 năm 2005, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 53 – NQ/TW về phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đông Nam bộ và Vùng KKTĐ phía Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. Ngày 13 tháng 2 năm 2014, Thủ tướng Chính. phủ ban hành Quyết định số 252/QĐ-TTg Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội Vùng KTTĐ phía Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.

Các văn bản hiện nay chủ yếu mang tính chất tuyên bố về chính sách, đường lối, kế hoạch, chỉ tiêu phát triển Vùng KTTĐ phía Nam; nhưng xét theo khía cạnh kỹ thuật lập pháp thì vẫn còn thiếu các quy phạm pháp luật cụ thể đặc thù cho sự phát triển vùng KTTĐ này. Chính sách không thể thực hiện nếu thiếu cơ chế pháp luật.

Có thể nhận thấy, trong hệ thống pháp luật hiện hành, rất thiếu các cơ chế, quy định pháp luật cụ thể và trực tiếp điều chỉnh các quan hệ kinh tế theo phạm vi vùng kinh tế nhằm phát triển Vừng KTTĐ phía Nam. Tác giả cho rằng kinh tế thị trường định hướng XHCN phải là là nền kinh tế thị trường có hệ thống pháp luật điều chỉnh nhằm đảm bảo định hướng XHCN Vì vậy, bài tham luận này tập trung phân tích, đề xuất các cơ chế pháp lý nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển của vùng KTTĐ phía Nam.

1. Kinh tế thị trường định hướng XHCN và vai trò của nhà nước, pháp luật trong nền kinh tế thị trường

1.1. Khải niệm, đặc tính và bản chất của kinh tế thị trường

Khái niệm

“Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà trong đó người mua và người bán tác động với nhau theo quy luật cung cầu, quy luật giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ trên thị trường”. Theo c. Mác, kinh tế thị trường là một giai đoạn phát triển tất yếu của lịch sử mà bất cứ nền kinh tế nào cũng phải trải qua để đạt tói nấc thang cao hơn trên con đường phát triển.

Adam Smith cho rằng trong nền kinh tế thị trường, các cá nhân tham gia vào thị trường muốn tối đa hóa lợi nhuận cho mình. Ai cũng muốn thế cho nên vô hình trung đã thúc đẩy sự phát triển và củng cố lợi ích cho cả cộng đồng thông qua một “bàn tay vô hình Chính quyền mỗi quốc gia không cần can thiệp vào cá nhân và doanh nghiệp, cứ để nó tự do hoạt động kinh doanh và ông kêt luận: “Sự giàu có của môi quôc gia đạt được không phải do những quy định chặt chẽ của nhà nước, mà do bởi tự do kinh doanh”. Những người ủng hộ thị trường tự do cổ điển cho rằng sự can thiệp của chính phủ có xu hướng dẫn đến sự thiêu hiệu quả kinh tê mà hậu quả thực sự của nó là làm cho người dân nghèo đi.

Đặc tỉnh và bản chất của kinh tế thị trường

Một , nền kinh tế thị trường có rất nhiều chủ thể kinh tế tồn tại độc

lập dưới nhiều hình thức sở hữu khác nhau. Các chủ thể này hoàn toàn tự chủ trong việc quyết định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai. Họ tự chịu ừách nhiệm đối với quyết định sản xuất kinh doanh của bản thân dựa trên những tín hiệu thị trường.

Hai ỉà, nền kinh tế thị trường có một hệ thống đồng bộ các thị trường và thế chế tương ứng. Các thị trường này bao gồm thị trường các yếu tố sản xuất (như thị trường đất đai, thị trường sức lao động, thị trường tài chính; thị trường khoạ học – eông nghệ) và thị trường hàng hóa và dịch vụ tiêu dừng. Để nền kinh tế thị trường hoạt động hiệu quả, phải bảo đảm hai yêu cầu đó là phải có sự hiện diện đầy đủ của tất cả các thị trường nói trên và các thị trường phải vận hành đông bộ thông qua những thể chế phù hợp.

Ba là, giá cả được xác lập thông qua tương quan cung và cầu trên thị trường; nền kinh tế thị trường chỉ vận hành được một khi hệ thống giá cả được quyết định khách quan bởi thị trường.

Bốn là, cơ chế căn bản yận hành của nền kinh tế thị trường là cạnh tranh tự do. về bản chất, cơ chế cạnh tranh thị trường là cơ chế tự điều chỉnh, nên còn được gọi là “bàn tay vô hình”. Cơ chế này giúp nền kinh tế tạo lập sự cân bằng mỗi khi bị trục trặc.

Ưu điểm và khuyết tật của nền kinh tế thị trường (ỉ) về ưu điểm

Một là, nền kinh tế thị trường tạo ra môi trường kinh doanh tự do, dân chủ và năng động; người sản xuất và người tiêu dùng được tự do thỏa thuận, trao đổi nhăm đảm bảo lợi ích cho chính mình. Từ đó, tạo ra một môi trường kinh doanh tự do, dân chủ và năng động.

Hai là, nền kinh tế thị trường tạo điều kiện cho sự cải tiến phát triển và đào thải những nhà kinh doanh kém hiệu quả. Theo đó, nếu nhà kinh doanh không cải tiến chất lượng sản phẩm thì sẽ bị đào thải, người tiêu dùng sẽ tự mình lựa chọn sản phẩm tốt nhất. Đồng thời, việc cải tiến phát triển sẽ giúp sản xuất hiệu quả hơn và do vậy tăng năng suất lao động của doanh nghiệp, nâng cao khả năng cạnh ừanh. Những nhà kinh doanh nào không có sức cạnh tranh tốt sẽ bị đào thải.

Ba là, nền kinh tế thị trường là nơi tạo điều kiện thuận lợi và môi trường cho mọi chủ thể được quyền sáng tạo. Ở đó, mỗi cá nhân, doanh nghiệp được phát huy tối đa mọi điểm mạnh để tạo ra các sản phẩm tốt nhất.

* Về khuyết tật

Cơ chế thị trường là cơ chế tốt nhất điều tiết nền kinh tế thị trường, tuy nhiên cơ chế thị trường cũng có những khuyết tật vốn có của nó.

Một , cơ chế thị trường chỉ phát huy tác dụng đầy đủ khi có cạnh tranh hoàn hảo, khi xuất hiện cạnh tranh không hoàn hảo, thì hiệu lực của cơ chế thị trường bị giảm. Nếu xuất hiện độc quyền trong kinh tế thị trường thì các doanh nghiệp độc quyền có thể giảm sản lượng, tăng giá để thu lợi nhuận cao, mặt khác, khi xuất hiện độc quyền, thì không có sức ép của cạnh tranh đối với việc đôi mới kỹ thuật, tăng chất lượng và giảm giá thành.

Hai ỉà, mục đích hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân là lợi nhuận tối đa, vì yậy họ có thể lạm đụng tài nguyên cửa xã hội, gây ô nhiễm môi trường sông của con người, do đó hiệu quả kinh tế – xã hội không được bảo đảm.

Ba là, phân phối thu nhập không công bằng, vì vậy sự tác động của cơ chế thị trường sẽ dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo, sự phân cực về của cải, tác động xấu đến đạo đức và tình người.

Bốn là, một nền kinh tế do cơ chế thị trường thuần tuý điều tiết khó tránh khỏi những thăng trầm, khủng hoảng kinh tế có tính chu kỳ và thất nghiệp.

1.2. Khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN qua các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trước khi trình bày về kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam, nên tìm hiểu vài nét cơ bản của kinh tế thị trường ở Trung Quốc, một quốc gia có rất nhiều nét tương đồng với nước ta về thể chế chính trị, văn hóa, phong tục.

Trung Quốc đã rất thành công trong gần 4 thập kỷ cải cách kinh tế và mở cửa; hiện nay đã trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới. Nền kinh tế thị trường của Trung Quốc có những đặc điểm khác với Việt Nam.Về mặt lý luận, nền kinh tế thị trường XHCN mang màu sắc Trang Quốc chính là nền kinh tế thị trường theo quan điểm của các nước phương Tây, tập trung khắc phục những khuyết điểm cô hữu vốn có của nền kinh tế thị trường như bất bình đẳng trong thu nhập, thất nghiệp theo chu kỳ, cạnh tranh độc quyền và thông tin bất cân xứng … Trung Quốc vẫn tự nhận mình là một quốc gia có nền kinh tế thị trường, mặc dù vậy, cho đến nay Trung Quốc vẫn bị nhiều quốc gia trên thế giới như Mỹ và EU cho rằng nước này chưa có nền kinh tế thị trường. Có thể thấy một số điểm khác biệt chính của nền kinh tế thị trường Trung Quốc so với các nền kinh tế thị trường phương Tây như sau:

Một là, Chính phủ Trung Quốc can thiệp quá sâu vào các hoạt động của nên kinh tế nước này, kể cả từ chính quyền trung ương hay địa phương.

Hai là, về phía tổng cung, quy mô sản lượng và phương thức sản xuất không do thị trường quyết định, dẫn đến tình trạng sản xuất thừa. Các quốc gia Tây phương cho rằng sở dĩ cỏ tình trạng sản xuất thừa là cho chính sách trợ giá mạnh mẽ của chính phủ Trung Quốc trong một thời gian dài, không phản ánh đúng quy luật cung cầu của thị trường.

Ba là, Chính phủ Trung Quốc thao túng đồng nội tệ, cụ thể là định giá thấp đồng nội tệ để khuyến khích xuất khẩu trong một thời gian dài. Thậm chí, tình trạng thao túng ngày càng trầm trọng hơn, đó là siết chặt quản lý tỷ giá, không cho tỷ giá biến động theo cung câu thị trường. Ngân hàng trung ương của Trung Quốc cũng liên tục có những động thái can thiệp vào thị trường ngoại hối trong suốt một thời gian dài.

Bốn là, Trung Quốc không phân phối một cách công bằng các phương tiện sản xuất cho toàn bộ nền kinh tế, chẳng hạn như khu vực nhà nước được dễ dàng huy động vốn lớn với lãi suất thấp mặc dù sử dụng không hiệu quả, khu vực tư nhân thì phải đi vay tín dụng với lãi suất cao hơn. Trung Quốc lập luận rằng vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước là một trong những đặc điểm, bản sắc của nền kinh tế thị trường XHCN.

Năm là, nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng dựa vào xuất khẩu là chính nhưng chưa thực sự mở cửa. Thị trường nước này vẫn còn bị xem là quá khép kín đối với phần còn lại của thế giới.

Tiến trình đổi mới và phát triển nền kinh tế ở Việt Nam có nhiều điểm khác với Trung Quốc. Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã mở ra một thòi kỳ mới – thời kỳ đổi mới toàn diện, triệt để và sâu sắc mọi mặt đời sống của đất nước, trong đó có lĩnh vực kinh tế, nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Khởi đầu công cuộc đổi mới, về cơ cấu kinh tế, Đảng xác định đẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, cho phép và khuyến khích kinh tế tư nhân… Dù chưa chưa đề cập tới phát triển nền kinh tế thị trường,nhưng đây là dấu mốc quan trọng trong quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng về con đường và phương pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Đến Đại hội VII (6/1991), tổng kết 5 năm thực hiện nghị quyết Đại hội VI, Đảng tiếp tục khẳng định thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phân, đồng thời nêu rõ, cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác.Như vậy, đây là lần đầu tiên Đảng đề cập đến cơ chế thị trường với tư cách là cơ chế vận hành nền kinh tế. Đại hội VIII có bước phát triển mới, thể hiện ở chủ trương: Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái”. Đảng cũng nêu rõ: “Vận dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý nền KTTT là để sử dụng mặt tích cực của nó phục vụ mục đích xây dựng CNXH chứ không đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”.

Tại Đại hội IX, lần đầu tiên Đảng đã chính thức khẳng định nền KTTT định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam ừong thời kỳ quá độ đi lên CNXH. Mục đích của nền kinh tế này là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất của CNXH, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn với quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt sở hữu, quản lý và phân phối. Từ đây, khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mới được chính thức sử dụng trong các văn kiện của Đảng. Đại hội X đã tiếp tục khẳng định đường lối phát triển KTTT định hướng XHCN; để đi lên CNXH, Việt Nam phải phát triển nền KTTT định hướng XHCN; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội; xây dựng nền dân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia; chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.

Đại hội XI tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu giữ vững định hướng XHCN của nền KTTT, và đã có những tư tưởng, quan điểm mới. Đại hội khẳng định nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo Cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Trong nền KTTT định hướng XHCN, cơ chế thị trường phải được vận dụng đầy đủ, linh hoạt để phát huy mạnh mẽ và có hiệu quả mọi nguồn lực nhằm phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo, tăng cường đồng thuận xã hội để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đại hội XII của Đảng đã tổng kết 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới và nêu ra định nghĩa mới về khái niệm nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đại hội XII khẳng định “thống nhất nhận thức nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quôc tê; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; có quan hệ sản xuất tiến bộ phù họp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiêu thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kirủi tế; các chủ thể thuộc các thành phân kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bố có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bố theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường.

Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế – xã hội”.

Cách thể hiện như trên đã khái quát rõ nét những vấn đề cơ bản về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó về định hướng xã hội chủ nghĩa, thể hiện ở năm điểm: có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế – xã hội; xác lập quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp để thúc đẩy phát triển mạnh lực lượng sản xuất; và nhất là: thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển.

2. Vai trò của nhà nước và pháp luật trong nền kinh tế thị trường

2.1. Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường

Không thể phủ nhận rằng nhà nước có vai trò đặc biệt đối với nền kinh tế, bởi lẽ nhà nước là chủ thể nắm giữ nguồn của cải vật chất to lớn nhất trong xã hội và đồng thời sở hữu nguồn tài nguyên quốc gia. Bên cạnh đó, nhà nước còn có quyền lực và trách nhiệm quản lý nền kinh tế cũng như khả năng sử dụng các công cụ quản lý có tác động đến nền kinh tế như thuế, chính sách, luật pháp…

Tuy nhiên, vẫn có nhiều quan điểm khác nhau về vai trò quản lý kinh tế của nhà nước. Câu hỏi đặt ra là nhà nước có nên can thiệp vào nên kinh tế hay không, nếu có thì nhằm mục đích gì; nhà nước can thiệp vào lĩnh vực kinh tế nào, và sự can thiệp đến mức độ nào, bằng cách thức và phương pháp nào.

Quan điểm phản đối sự can thiệp của nhà nước dựa trên đặc trưng vận hành theo quy luật cung cầu của nền kinh tế thị trưòng tự do. Những người theo quan điểm này cho rằng nếu nhà nước can thiệp quá sâu vào nền kinh tế thì có nguy cơ lạm dụng quyền lực cũng như nền kinh tế có thể bị trì trệ do sự quan liêu của bộ máy nhà nước.

Quan điểm ủng hộ sự can thiệp của nhà nước cho rằng cơ chế thị trường chỉ đáp ứng cho những người có khả năng chi trả. Sự tự do của nền kinh tế thị trường đễ dẫn đến sự lũng đoạn và độc quyền.

Tuy còn nhiều quan điểm trái chiều nhưng nhìn chung, đa số các quan điểm đêu thừa nhận tầm quan trọng của nhà nước trong nền kinh tế, đặc biệt là kinh tế thị trường, nhưng sự can thiệp của nhà nước cần có sự lựa chọn theo các lĩnh vực với cách thức, mức độ nhất định.

Vai trò của nhà nước thế hiện qua những mặt cơ bản như sau:

  • Quản lý nhà nước có hiệu ứng rất lớn đối vói sự phát triển của nền kinh tê. Ví dụ, trong những cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1997 và 2008, một trong những nguyên nhân của khủng hoảng bắt nguồn từ sự quản lý nhà nước. Tuy nhiên, cũng chính nhà nước là chủ thể có thể khắc phục và xử lý hậu quả tốt nhất.
  •  Nhìn từ góc độ bản chất của nhà nước, chúng ta có thể thấy trong xã hội hiện đại ngày nay, bản chất xã hội của nhà nước được chú trọng nhiều hơn so với bản chất giai cấp, nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước có vai ừò xã hội đặc biệt quan trọng bởi nó giải quyết những nhiệm vụ cơ bản nhất như: phát triển nền kinh tế thị trường nhưng giải quyết những bất cập về mặt kinh tế của nền kinh tế thị trường; giải quyết những xung đột vê lợi ích xuât phát từ tự do hóa thương mại toàn câu và bảo vệ sản xuât trong nước; phát triển kinh tế đồng thòi đảm bảo môi trường, phát triển bền vững; tạo điều kiện phát triển nền kinh tế tri thức trong điều kiện cạnh tranh nguồn nhân lực…
  •  Đối với những quốc gia trong quá tình chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường, nhà nước càng có vai trò quan trọng hơn bởi lẽ ngoài định hướng chuyển đổi, nó còn phải tạo cơ sở cho nền kinh tế tri thức phát triển, thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa.

2.2. Vai trò của pháp luật trong nền kinh tế thị trường

Vai trò nguyên thủy của pháp luật là thiết lập những “nguyên tắc” cho xã hội, đưa ra những quy tắc cho hành vi xử sự của con người trong xã hội. Pháp luật phải thiết kế những thiết chế nhằm kiểm soát quyền lực công và thiết lập cơ chê kiêm soát lạm quyên. Mặt khác, pháp luật phải bảo yệ tự do và những quyên cơ bản của con người, ngăn chặn tĩnh trạng vô chính phủ, duy trì và ôn định kinh tế, chính trị. Nhìn từ góc bộ bản chất, tính giai cấp của nhà nước vẫn là một trong những nội dung cơ bản và quan trọng của nhà nước hiện đại. Tuy nhiên, tính xã hội của nhà nước dần mở rộng. Thông qua sự thay đổi chức năng của nhà nước, vai trò xã hội, tính xã hội của nhà nước ừong nền kinh tế thị trường thể hiện rất rõ. Đó là sự dung hòa mối quan hệ giữa tính giai cấp và tính xã hội, dung hòa lợi ích của nhà nước và các chủ thể khác. Có thể thấy rằng sự thê hiện lợi ích chung, ý chung của xã hội trong chính sách, hoạt động của nhà nước đã có những thay đổi đáng kể bởi bên cạnh những lợi ích giai cấp, ý chí giai cấp, những lợi ích chung của xã hội, ý chí chung của xã hội đóng vai trò ngày càng quan trọng hơn.

Vấn đề đặt ra là, trong nền kinh tế thị trường, nhà nước sử dụng công cụ pháp luật như thế nào để điều chỉnh quan hệ kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa?

Trong nền kinh tế thị trường, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng bởi “Pháp quyền là nền tảng của kinh tế thị trường”. Nền kinh tế thị trường vốn đa dạng về các quan hệ, các lợi ích, vì vậy, chuẩn mực văn minh, tiến bộ và công cụ hữu hiệu cho việc điều chỉnh các quan hệ xã hội này chính là pháp luật. Vai trò này càng quan trọng hơn khi nền kinh tế thị trường hội nhập với kinh tế quốc tế thông qua quá trình toàn cầu hóa.

Một là, với tư cách là tổ chức quản lý và công cụ quản lý, nhà nước và pháp luật trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN phải thể hiện vai trò xã hội của mình. Vai trò xã hội, tính xã hội của nhà nước và pháp luật cần thê lợi ích chung, ý chung của xã hội thông qua cách chính sách kinh tế. Thực tiễn cho thấy trong chính sách, hoạt động của nhà nước đã có những thay đổi đáng kể bởi bên cạnh những lợi ích giai cấp, ý chí giai cấp, những lợi ích chung của xã hội, ý chí chung của xã hội đóng vai trò ngày càng quan trọng hơn.

Một nghịch lý cho thấy, kinh tế thị trường tự do mâu thuẫn với sự can thiệp của nhà nước. (Khảo sát ví dụ thực tế qua cuộc khủng hoảng kinh tế 1997 và 2008). Do đó, nhà nước, qua các công cụ pháp lý, phải đóng vai trò là người bảo vệ tầng lớp dễ bị tổn thương, thực hiện việc đa dạng văn hóa, nâng cao vốn xã hội, niềm tin trong xã hội, bảo vệ môi trường, bình đẳng giới…Vai trò này xuất phát từ sự khiêm khuyết của kinh tế thị trường vốn chỉ đáp ứng cho những người có khả năng mặc cả.

Hai là, pháp luật trong nền kinh tế thị trường phải tuân thủ những yêu cầu mà nhà nước pháp quyền đặt ra. Pháp luật phải phản ánh các quy luật và nguyên lý của thị trường, lấy tự do và dân chủ trong kinh tế, lấy giới hạn vê chức năng, nhiệm vụ và phương thức hoạt động của nhà nước làm phương châm cho điều chỉnh pháp luật.

Sự phát triển kinh tế là một điều tốt nhưng bên cạnh đó phải là một ừật tự pháp luật được thiết lập. Kinh tế thị trường vốn đa dạng về lợi ích do đó nó cần phải có chuẩn mực ứng xử thống nhất và được bảo đảm thực hiện. Mặt khác, nên kinh tế thị trường cần có sự đảm bảo cho quyền sở hữu, đảm bảo cho những giao dịch kinh tế nên sự hiện diện của pháp luật là điều không thể thiếu được.

Ba là, pháp luật phải minh bạch và khả năng thực thi cao. Nhìn từ góc độ quản lý, pháp luật đóng vai trò là một trong những công cụ, phương tiện quan trọng và hiệu quả nhất của nhà nước trong quản lý nền kinh tế thị trường bởi tính minh bạch, tính bảo đảm thực hiện bằng cưỡng chế của nó.

Bốn là, pháp luật thể chế hóa các chức năng, nhiệm vụ xã hội của nhà nước thành các quy định pháp lý và việc thực hiện những nhiệm vụ này trở thành trách nhiệm pháp lý của nhà nước trong phạm vi quốc gia và quốc tế. Bên cạnh đó, các nhiệm vụ của pháp luật khi được thể chế hóa cũng trở thành trách nhiệm của toàn bộ xã hội, của tất cả các công dân trong việc thực hiện các mục tiêu chung của xã hội. Pháp luật nên là một trong những công cụ, phương tiện quan trọng để thực hiện các nhiệm vụ chung, các cam kết chung của toàn bộ xã hội như giảm đói nghèo, bệnh tật, thất học…

3. Cơ chế, chính sách phát triển Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và những vấn đề pháp lý liên quan

3.1. Cơ chế pháp luật của Nhà nước để phát triển Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

Tại các diễn đàn cũng như trong các nghiên cứu thuật ngữ “cơ chế” được sử dụng khá phổ biến với nhiều nghĩa khác nhau. Hội thảo này cũng bàn về cơ chế chính sách pháp luật.

Cơ chế pháp luật trong phạm vi bài viết này, tạm hiểu là “cỗ máy luật pháp”, cơ chế pháp luật được hợp thành từ 3 yếu tố, bao gồm: (1) các văn bản quy phạm pháp luật (tạm hiểu là các linh kiện của cỗ máy); (2) phương thức tổ chức và thực hiện/ thực thi pháp luật (cách thức điều khiển vận hành cỗ máy); nhân lực, nguồn lực và công cụ để tổ chức thực thi pháp luật (nhân lực, nguyên liệu, năng lượng để vận hành cỗ máy).

Điều kiện tiên quyết để “cỗ máy” này vận hành hiệu quả là:

  •  Các bộ phận cấu thành nội bộ mỗi yếu tố phải đồng bộ, tương thích, ví dụ: các văn bản pháp luật, các (nhóm) quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật phải tương thích, đảm bảo kết nối, liên thông và hoàn hảo để chúng có thể hoàn thành sứ mệnh của chính nó mà nhà hoạch định chính sách pháp luật kỳ vọng khi soạn thảo, ban hành văn bản pháp luật đó.
  •  Giữa 3 yếu tố cấu thành nói trên của cơ chế pháp luật phải có sự tương thích, phù hợp và thống nhất. Một văn bản pháp luật “hoàn hảo” được ban hành nhưng không có nguồn lực, nhân lực và không có cách thức tổ chức thực thi một cách khoa học để chuyển chúng vào trong cuộc sống thì văn bản pháp luật đó mãi mãi chỉ tôn tại trên giây mà không thê đạt được mục tiêu kỳ vọng của nhà làm luật. Do vậy công tác đánh giá hiệu quả pháp luật phải thực hiện liên tục, thường xuyên và khoa học. Chúng ta có chú trọng đến khâu đánh giá dự báo tác động của văn bản luật và đánh giá tổng kết thực hiện văn bản pháp luật nhưng được tiến hành chung chung, sơ sài do thiếu các tiêu chí mang tính định lượng.
  • Hệ thống pháp luật hiện hành có biểu hiện đồng nhất “không gian kinh tế” với giới hạn địa hạt hành chính, theo đó, 63 tỉnh thành gần như là 63 “không gian kinh tế” độc lập. Tình trạng manh mún, chia cắt theo dấu hiệu địa giới hành chính là rào cản lớn nhất cho tiến trình liên kết kinh tế và tận dụng, phát huy nội lực của cả vùng. Các hoạt động đầu tư công dàn trải, manh mún trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, cảng biển, sân bay, khu công nghiệp là minh chứng về việc đồng nhất “không gian kinh tế” với khái niệm đơn vị hành chính lãnh thổ.

Hệ thống pháp luật kinh tế đảm bảo phát triển kinh tế Vùng KTTĐ phía Nam bao gồm nhiều lĩnh vực như: pháp luật về đầu tư kinh doanh, ngân sách nhà nước, thuế, hải quan, đầu tư công, đất đai, quy hoạch, xây dựng, bảo yệ môi trường môi trường…. Việt Nam theo mô hình tổ chức nhà nước đơn nhất; các văn bản pháp luật của trung ương đều có phạm vi áp dụng trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Chính quyền địa phương (cấp tỉnh) triển khai áp dụng pháp luật và quản lý nhà nước trong phạm vi được phân cấp trên phạm vi địa bàn tỉnh – thành phố thuộc trung ương. Các vấn đề phát triển kinh tế, đất đai, quy hoạch, quản lý đô thị được quản lý và triển khai thực hiện theo lợi ích của từng địa phương. Hệ thống ngân sách nhà nước được phân cấp thành hai cấp là ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Hoạt động đầu tư công, quy hoạch sử dụng đất, tài nguyên và bảo vệ môi trường… cũng được phân cấp nhưng phần lớn theo dấu hiệu địa giói hành chính cấp tỉnh.

Pháp luật kinh tế phải xuất phát từ các nguyên lý kinh tế thị trường và trung thành với các nguyên lý đó. Mọi biểu hiện duy ý chí không có chỗ đứng trong tiến trình ban hành và tổ chức thực thi pháp luật nói chung và pháp luật kinh tế cho phát triển vùng kinh tế nói riêng. Muốn vậy, ngoài yêu cầu về minh bạch, hiệu quả thì hệ thống pháp luật đó có tính dự báo và dự đoán được định hướng và xu thế phát triển.

Mục tiêu pháp luật kinh tế phải thực sự là động lực thúc đẩy hợp tác trong việc huy động vốn đầu tư và xây dựng, phối hợp xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch, cải thiện môi trường kinh doanh và đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh của Vùng; hợp tác bảo vệ môi trường, ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu. Mục tiêu cuối cùng của cơ chế pháp luật phát triển là đạt được công thức: 1+1 >2 (một cộng một phải lớn hơn hai).

Phát luật kinh tế phát triển vùng phải được xây dựng trên nền tảng lý thuyết kinh tế thị trường định hướng XHCN nhằm phân bổ công bằng lại lực lượng sản xuất, phục hồi và tái tạo công bằng xã hội, đảm bảo quyền con người, quyền công dân, bảo vệ giá trị đạo đức và giá trị xã hội.

Trong điều kiện xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quyền ban hành chính sách và cơ chế đặc thù để phát triển kinh tế vùng nói chung hay phát triển kinh tế vùng trọng điểm phía Nam nói riêng hay không và nếu có thì với những điều kiện và nguyên tắc nào là vấn đề cần phải được giải quyết rõ ràng.

Câu trả lời về mặt nguyên tắc là, bất kỳ một quốc gia nào cũng có chủ quyền kinh tế, nghĩa là có quyên lựa chọn, xây dựng, ban hành và thực thi chính sách kinh tế để phát triển đất nước, bao gồm phát triển kinh tế vùng để xóa đói giảm nghèo hoặc để tạo nên những đầu tàu dẫn dắt, có tác động lan tỏa cho cả nền kinh tế và nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia. Các thể chế kinh tế quốc tế đều không ngăn cản các quốc gia thành viên xây dựng, ban hành và thực thi chính sách và cơ chế phát triển kinh tế vùng.

Hiện nay, kinh tế Việt Nam vừa đứng trước cơ hội hội nhập sâu rộng hơn với các nền kinh tế vừa phải đối mặt với áp lực cạnh tranh lớn hơn mà ở đó một số lợi thế cạnh tranh của chúng ta bị giảm sút. Để có thể nắm bắt tốt cơ hội này, Việt Nam cần có được những trọng tâm kinh tế phát triển mạnh, có cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội được tập trung đầu tư, phát triển vượt bậc. Chúng ta phải hoàn thiện các thể chế kinh tế thị trường, trong đó không phân biệt đối xử và cạnh tranh công bằng là nguyên tắc then chốt cần được thực thi.

Các phân tích trên cho thấy, trong bối cảnh hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế, Nhà nước Việt Nam không chỉ có quyền xây dựng, ban hành và thực thi chính sách, thể chế phát triển kinh tế vùng, mà điều đó còn là cần thiết và cấp bách để có thể hội nhập kinh tế toàn cầu và khu vực thành công. Nhưng việc xây dựng, ban hành và thực thi chính sách, cơ chế phát triển kinh tế vùng như vậy cũng phải tuân thủ các nguyên tắc được cam kết hay thừa nhận trong thương mại quốc tế như nguyên tắc đối xử tối huệ quốc, nguyên tắc đối xử quốc gia và cả nguyên tắc cạnh tranh công bằng giữa các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh tế.

Từ đó, nhìn từ góc độ pháp luật, có thể nêu một số gợi ý về cách thức và phương pháp mà Nhà nước có thể sử dụng để phát triển kinh tế vùng nói chung và Vùng KTTĐ phía Nam như sau: máu chốt của chính sách và cơ chế phát triển kinh tế vùng là việc giao quyền tự chủ, tự quyết định cho chính quyền địa phương hoặc các chính quyền địa phương liên quan trong quyết sách một số vấn đề mang tính then chốt cho phát triển kinh tế vùng như các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật hay các hổ trợ, ưu đãi đặc biệt về đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực, tiếp cận nguồn vốn, sử dụng đất, về thuế… Như vậy, các thảo luận về việc xây dựng chính sách và cơ chế phát triển kinh tế vùng cần tập trung vào các vấn đề như phạm vi quyền tự chủ, tự quyết định của chính quyền hoặc các chính quyền địa phương liên quan; mối quan hệ giữa chính quyền trung ương với chính quyền hoặc các chính quyền địa phương vùng kinh tế trọng điểm; việc tạo và phân bổ nguồn lực để thực thi chính sách.

3.2. Các giải pháp cụ thể về cơ chế pháp luật cho việc phát triển kinh tế Vùng KTTĐ phía Nam

3.2.1. Chính sách pháp luật về đẩt đai

Giải pháp 1: Xem xét bổ sung Quy hoạch sử dụng đất vùng kinh tế trọng điểm vào Hệ thống quy hoạch sử dụng đất. Theo Luật Đất đai 2013, trong hệ thống quy hoạch sử dụng đất hiện nay chỉ có Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất câp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng và Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất an ninh. Quy hoạch sử dụng đất với vai trò phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triến kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường… có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả thực hiện Chiến lược, Quy hoạch phát triển vùng kinh tế. Tuy nhiên, theo quy định hiện hành, việc bố trí đất đai để thực hiện quy hoạch phát triển vùng lại được thực hiện qua Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh. Trong khi đó, khi xây dựng quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, Luật Đất đai 2013 cũng không bắt buộc phải căn cứ vào quy hoạch phát triển vùng kinh tế trọng điểm bao gồm nhiều tỉnh (Điểm b Khoản 1 Điều 39 của Luật Đất đai 2013 chỉ yêu cầu căn cứ vào Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội của vùng kinh tế – xã hội của cấp tỉnh.

Giải pháp 2: cần phải có chế độ quản lí, sử dụng đất đặc thù cho vùng kinh tế trọng điểm trên cơ sở có sự phân hóa cho phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng tỉnh, cụ thể:

(1) về phát triển quỹ đất: thành lập Tổ chức quỹ đất để thực hiện việc phát triển quỹ đất cho cả vùng thay vi mỗi tỉnh có một Trung tâm phát triển quỹ đất riêng như hiện nay. vể mô hình tổ chức hoạt động, Tồ chức phát triển quy đất của vùng sẽ thành lập theo mô hình doanh nghiệp theo đúng tinh thần của Nghị !                    quyết 19-NQ/TW về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách, tăng cường năng lực của Tổ chức phát triển quỹ đất, từng bước chuyến Tổ chức phát triển quỹ đất sang mô hình doanh nghiệp phát triển quỹ đất; phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ về đất đai”. Tuy nhiên không hiểu sao, Luật Đất đai 2013 không thể hiện chủ trương này mà vẫn quy định Tổ chức phát triển quỹ đất là đơn vị sự nghiệp công được thành lập theo quy định của pháp luật về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn yị sự nghiệp công lập. Với tư cách là tổ chức sự nghiệp công lập, Tô chức phát triển quỹ đất sẽ bị hạn chế trong phát triển và khai thác quỹ đất như không chủ động về tài chính, vốn mà Tổ chức phát triển quỹ đất dùng để bồi thường, hỗ trợ, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất về cơ chế hoạt động, tổ chưc phát triển quỹ đất hoạt động theo mô hình doanh nghiệp sẽ được Nhà nước uỷ thác tạo quỹ đất ủy thác và có quyền đưa quỹ đất ủy thác vào khai thác sử dụng theo cơ chế thị trường dưới dạng những giao dịch dân sự. Nếu vậy, một số hoạt động quản lý việc sử dụng đất (giao đất, cho thuê đất…) đang được thực hiện bởi các cơ quan quản lý Nhà nước hiện nay sẽ được chuyển giao cho doanh nghiệp được ủy thác. Áp dụng phương thức này sẽ hạn chế những thủ tục hành chính trong quá trình thực hiện quyền sở hữu đất đai của Nhà nước, sự dịch chuyển quyền sử dụng đất (QSDĐ) từ Nhà nước tới người sử dụng theo cơ chế thị trường sẽ thuần khiết hơn, hạn chế được sự biến dạng bởi quan hệ nửa tài sản, nửa quyền lực.

Doanh nghiệp sẽ đưa quỹ đất được uỷ thác vào khai thác, sử dụng bằng những phương thức sau:

  •  Tìm kiếm đối tác hợp tác kinh doanh bằng QSDĐ. Trong trường hợp này, giá trị QSDĐ sẽ là phần vốn góp của nhà nước. Hình thức này sẽ đảm bảo gắn kết chặt chẽ quyền lợi của nhà nước với hiệu quả sử dụng đất và phần giá trị tăng lên của đất đai trên thực tế trong suốt quá trình sử dụng mà không cần phải áp dụng biện pháp điều tiết bằng thuế vốn vô cùng phức tạp, dễ gây phản ứng từ xã hội và rất khó có thể tính toán, áp dụng một cách công bằng. Mặt khác, hình thức này cũng tạo điều kiện để Nhà nước tiếp tục tác động vào quá trình sử dụng đất bằng chính quyền tài sản chứ không phải bằng quyền lực công.
  •  Chuyển nhượng, cho thuê QSDĐ qua quan hệ thị trường với điều kiện tất cả các thửa đất đều phải niêm yết công khai để các chủ thể có nhu cầu tiếp cận công bằng, giá đất để tính tiền chuyển nhượng, tiền cho thuê đều phải xác định thông qua hình thức đấu giá, nếu không thể đấu giá thì phải thông qua dịch vụ định giá. Hoạt động chuyển nhượng, cho thuê QSDĐ qua quan hệ thị trường của doanh nghiệp sẽ thay thế cho hoạt động giao đất, cho thuê đất để thực hiện các dự án đầu tư đang được thực hiện bởi UBND, qua đó, giúp bỏ bớt những thủ tục hành chính mang nặng tính xin cho, có nhiều kẽ hở để tiêu cực, tham nhũng lợi dụng. Mặt khác, việc chuyển giao QSDĐ từ Nhà nước cho người sử dụng lúc này như một cấp của thị trường QSDĐ sẽ được bảo đảm cả về nội dung và hình thức, cả về danh nghĩa và thực tế. về bản chất, việc nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất chính là Nhà nước bán QSDĐ cho người được giao. So vói tiền chuyển nhượng QSDĐ, tiền sử dụng đất không có gì khác vì chúng đều là tiền mà người có nhu cầu phải trả để có được QSDĐ, điều khác nhau cơ bản nhất giữa chúng chính là cơ chế thực hiện. Nếu chuyển nhượng QSDĐ thực hiện thông qua cơ chế thị trường dưới hình thức giao dịch dân sự, giá đất được xác định một cách khách quan qua cơ chế thị trường thì việc Nhà giạo đất có thu tiền lại được thực hiện bằng những thủ tục hành chính phiền hà, giá đất được xác một cách cứng nhắc và thường không phản ánh giá trị thực của đất. Khi Nhà nước thay thế hình thức giao đất có thu tiền sử dụng bằng việc chuyển nhượng

QSDĐ sẽ khắc phục về cơ bản những hạn chế nêu trên. Ngoài ra, áp dụng mô hình này còn khắc phục tình trạng Nhà nước để chủ đầu tư bồi thường thiệt hại cho người có đất bị thu hồi để trao quyền sử dụng cho mình rồi trừ tiền đó vào tiền thuê đất, tiền sử dụng đất phải nộp với những hệ quả tiêu cực sau: (i) trong trường hợp này, Nhà nước không thể đấu giá QSDĐ nên buộc phải áp dụng giá đất do UBND cấp tỉnh quyết định vốn thấp hơn rất nhiều so với giá thị trường nên không thể điều tiết khoản tiền chênh lệch do cơ chế hai giá làm phát sinh; (ii) dẫn đến sự bất bình đẳng giữa các nhà đầu tư vì trên thực tế không phải chủ đầu tư nào cũng được áp dụng cơ chế này hoặc nếu được áp dụng thì chi phí bồi thường là không giống nhau do mục đích sử dụng của đất tại thời điểm bị thu hồi, tình trạng tài sản có trên đất bị thu hồi có sự khác nhau, trong khi đó, đất đai là yếu tố đầu vào của họat động sản xuất, kinh doanh nên tiếp tục phát sinh sự không công bằng trong cạnh tranh.

  • Xem xét chỉnh sách bảo vệ đất chuyên trồng lúa nước, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng tại vùng kinh tế trọng điểm phù hợp với từng địa phương. Chính sách bảo vệ đất nông nghiệp hiện nay rõ ràng là cần thiết. Tuy nhiên đối với Thành phố Hồ Chí Minh và những khu vực được quy hoạch phắt triển công nghiệp thì việc ưu tiên, bảo vệ quỹ đất nông nghiệp cần phải có cơ chế linh hoạt mà không nên máy móc. Ví dụ: việc Điều 58 của Luật Đất đai 2013 bắt buộc phải có “Văn bản chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ đối với trường hợp chuyên mục đích sử dụng từ 10 héc ta đất trồng lúa trở lên; từ 20 héc ta đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng trở lên” nếu áp dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh là không cần thiết và phát sinh thủ tục, thời gian và chi phí giao dịch.

3.2.2. Về vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

Giải pháp 1: Cần nâng cao năng lực cảnh báo để xây dựng chiến lược, mục tiêu về môi trường mang tính dài hạn nhất là trong ứng phó biến đổi khí hậu. Theo Kịch bản khí hậu biến đổi và nước biển dâng cho Việt Nam và theo kịch bản phát thải cao thì đến cuối thế kỉ này, sẽ có trên 20% diện tích thành phố Hồ Chí Minh bị ngập do nước biển dâng, lượng mưa sẽ tăng từ 2% – 7%. Vì vậy TP. Hồ Chí Minh cần có những hoạt động phù hợp để ứng phó. Bài học hệ thống thoát nước của TP.HCM vừa mới đưa vào sử dụng đã bị quá tải dân đên ngập lụt nghiêm trọng do không lường được lượng mưa gian tăng do khí hậu biên đổi là một bài học cần phải quan tâm.

Giải pháp 2: cần phải đặc biệt quan tâm đến vấn đề an ninh môi trường, không để những vấn đề môi trường gây tác động lớn đến chính trị, an ninh, trật tự xã hội và phát triển kinh tế của vùng, của quốc gia. Việc phát triển kinh tế sẽ dân đên tác động môi trường. Nếu chúng ta không thật sự quan tâm đến bảo vệ môi trường, không thật sự quan tâm đến quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân thì rất có thể xảy ra những phản ứng vượt tầm kiểm soát.

Giải pháp 3: Cần lưu ý quyền của các thế hệ tương lai trong sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên theo nguyên tắc phát triển bền vững. Mục tiêu của phát triển bền vững là bảo đảm sự bình đẳng giữa các thế hệ trong khai thác, sử dụng môi trường. Tuy nhiên hiên nay, trong khái thác nguồn lực phát triển, chúng ta chưa quan tâm đúng mức đến các thế hiện tương lai. Ví dụ, việc cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần theo quy định của Luật Đất đai 2013…

Doanh nghiệp Nhà nước và vấn đề cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước

Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh trong Vùng KTTĐ phía Nam là nơi tập trung một lượng lớn các doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ nhiều tài sản quan trọng, đặc biệt là nguồn lực đất đai. Theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ 10, thành phố cần có các chủ trương, biện pháp mạnh mẽ hơn nữa để tạo đột phá trong thu hút đầu tư, trong việc thực hiện các dự án đầu tư công tư kết hợp (PPP) để phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế hạ tầng. Trong bối cảnh Việt Nam đã là một cấu phần của khu vực kinh tế chung ASEAN, Vùng KTTĐ phía Nam cần có những doanh nghiệp thực sự lớn và mạnh để có thể làm nắm vai trò đầu tàu dẫn dắt các doanh nghiệp khác cùng phát triển. Với thực trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay, doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước vẫn là những doanh nghiệp hiện đang sở hữu nhiều lợi thế cạnh tranh, nếu phát huy được các lợi thế đó bằng việc kết hợp với năng lực quản lý chuyên nghiệp sẽ có tác động rất lớn đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này.

Việc cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước sẽ giúp sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực mà các doanh nghiệp này đang nắm giữ bằng cách kết hợp với năng lực quản lý kinh doanh của các cổ đông mới đến từ các thành phần kinh tế khác. Để làm được việc này, cần tập trung vào các giải pháp sau:

  •  Cần quyết liệt hơn nữa chủ trương cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước, đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh những ngành nghề lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh nhằm huy động các nguồn lực khác vào việc phát triển các ngành kinh tế mà các doanh nghiệp này đang có thế mạnh. Trong tương lai gần, vẫn tiếp tục duy trì sở hữu Nhà nước với một tỷ lệ hợp lý ở các doanh nghiệp này, nhằm xây dựng các doanh nghiệp này thành các doanh nghiệp lớn, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao, tiến tới việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho cả các quốc gia trong khu vực
  •  Thu hút đầu tư nước ngoài vào các loại hình dịch vụ công mà Nhà nước đang có thế mạnh như bệnh viện, trường học. Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tập trung các cơ sở y tế và các trường học của Nhà nước đang có uy tín cao về chất lượng tay nghề và trình độ của đội ngũ nhân viên y tế và giáo viên. Tuy nhiên, cơ sở vật chất và trình độ, cách thức quản lý ở các cơ sở này còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu và sự phát triển của xã hội trong điều kiện hiện này. Vì vậy, cần mạnh dạn xây dựng cơ chế cho phép chuyển các bênh viện, trường học của Nhà nước đang hoạt động dưới hình thức các đơn vị sự nghiệp sang hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp và cổ phần hóa các doanh nghiệp này khi thích hợp để đẩy mạnh hơn nữa việc xã hội hóa các hoạt động này. Đây là giải pháp có tính thực tiễn cao để người dân có thể tiếp cận với dịch vụ y tế hiện đại, chất lượng cao, đội ngũ nhân viên y tế có năng lực chuyên môn (đội ngũ này hiện đang hoạt động chủ yếu trong các bệnh viện công lập). Tuy nhiên, cần có chính sách và giải pháp phù hợp để giải quyết các vấn đề chính sách xã hội cho người bệnh nghèo, các đối tượng chính sách.
  •  Cần có những chính sách thông thoáng hơn, đặc biệt là về quy trình thủ tục trong việc định giá doanh nghiệp Nhà nước để tiến trình cổ phần hóa diễn ra nhanh chóng và thuận lợi hơn, nhưng vẫn đảm bảo không thất thoát tài sản của Nhà nước khi thoái vốn, thực hiện đúng theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Đó là việc bán vốn nhà nước phải “thực hiện theo các theo các quy luật, thông lệ thị trường, bảo đảm công khai, minh bạch, chống tham nhũng, tiêu cực, chống lợi ích nhóm, bảo toàn tối đa tài sản nhà nước, bảo đảm lợi ích cao nhất của đất nước”.
  •  Cần xây dựng tiêu chí rõ ràng hơn để xác định các phương thức cổ phần hóa phù hợp với đặc trưng của từng doanh nghiệp. Trong điều kiện thị trường chứng khoán không có sự hỗ trợ tốt, có thể thực hiện việc cổ phần hóa bằng cách phát hành riêng lẻ cho các nhà đầu tư chiến lược, không nhất thiết phải phát hành cổ phần ra công chúng.
  •  Cần xây dựng chính sách để hỗ trợ một cách hợp lý đối với các doanh nghiệp sau cổ phần hóa, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến việc tiếp cận tín dụng, giải quyết lao động dôi dư, quản trị doanh nghiệp cũng như vấn để giải quyết các khoản nợ tồn đọng (khoản nợ phát sinh trước khi cổ phần hóa)

3.2.3. Cơ chế pháp luật trong việc thu hút nguồn vồn cho phát triển Vùng KTTĐ phía Nam

Sự phát triển hài hòa, đồng bộ kinh tế giữa các tỉnh trong Vùng KTTĐ phía Nam, lấy TP.HCM làm trung tâm nhằm thực hiện mục tiêu lan tỏa, từ đó tạo ra sức mạnh tổng hợp cho toàn khu vực. Theo yêu cầu ấy, cần có chính sách pháp luật thúc đẩy nhanhquá trình hình thành một cách hiệu quả các nguồn vốn, khơi thông dòng vốn đầu tư nước ngoài, tăng cường các biện pháp huy động vốn trong dân phục vụ sản xuất kinh doanh đem lại lợi ích chính thiết thực, công băng và hợp lý cho các đôi tượng, cá nhân tập thể và xã hội của khu vực.

Nguồn vốn phục vụ cho hoạt động đầu tư và phát triển bao gồm: vốn từ ngân sách nhà nước, vốn từ tổ chức, cá nhân, kể cả các dòng kiều hối từ nước ngoài, vốn từ đầu tư nước ngoài, nguồn vốn ODA. Do đó, để tăng cường nguồn vốn và sử dụng hiệu quả phù hợp với mục tiêu phát triển Vùng, cần xem xét các khía cạnh sau:

Thứ nhất, nguồn vốn từ ngân sách nhà nước phục vụ cho đầu tư và phát triển được xác lập một phần từ nguồn thu thường xuyên và chủ yếu từ nguồn vốn vay. Theo cơ chế phân bổ, nguồn kinh phí từ ngân sách phục vụ cho đầu tư vào phát triển sẽ sử dụng cho việc thực hiện các chương trình, dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội và các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, liên doanh, liên kết và các nhiệm vụ chi đầu tư khác theo quy định của pháp luật. Nguồn thu thường xuyên từ các khoản thu ổn định (thuế, phí, lệ phí) trong nền kinh tế chủ yếu phục vụ cho việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước. Do đó, việc xây dựng kế hoạch phân bổ nguồn vốn ngân sách cho TP.HCM và các tỉnh trong Vùng để thực hiện các dự án mục tiêu được phê chuẩn trong Quyết định 252/QĐ-Ttg ngày 13/2/2014 về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội Vùng KTTĐ phía Nam đến năm 2020, định hướng đến 2030 đã có thể lập dự toán ngay từ bây giờ cho từng giai đoạn 3-5 năm từ nay đến 2030.

Thứ hai, nguồn vốn hỗ trợ chính thức ODA (Official Development Assisstance) được xem là một nguồn tài trợ vốn để thực hiện đầu tư và phát triển. Vốn ODA về bản chất là các khoản vay của chính phủ nên là được xác định là khoản nợ của ngân sách nhà nước. Do vậy, vốn ODA chỉ được dùng phân bổ cho các dự án đầu tư và phát triển. Với Vùng KKTĐ phía Nam, việc xây dựng kế hoạch phát triển các dự án trọng điểm Vùng sẽ là cơ sở để phân bổ nguồn kinh phí này. Mặc dù hiện nay, TPHCM là địa phương tiếp nhận và sử dụng vốn ODA nhiều nhất và hiệu quả nhất, tuy nhiên, để phát triển Vùng, cần tính đến thiết lập mối liên kêt các dự án với các tỉnh trong Vùng sử dụng vốn ODA, trong đó lấy TP.HCM là đầu mối điều phối các dự án kết nối các Tỉnh trong Vùng. Quy trình phân bổ vốn ODA cũng cần tính đến tổng thể địa phương trong vùng hơn là xác định riêng cho từng địa phương.

Thứ ba, nguồn vốn có thể đến từ các chủ thể tư là các doanh nghiệp và cá nhân. Trong việc tiếp cận nguồn vốn tư để tăng cường cho phát triển Vùng có thể kế đến việc phát triển quan hệ đối tác công tư (PPP). Với năng lực của các doanh nghiệp trong nước tại TPHCM, Tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, việc liên kết này có sưc thu hút vốn trong và ngoài nước, vừa tạo ra sự đa dạng trong việc phát triển ngành kinh tế, tăng thêm việc làm cho người lao động. Để làm điều này cần xây dựng các quy chế thực hiện ppp một cách phù hợp với đặc điểm của Vùng. Dòng vốn đầu tư nước ngoài cũng là nguồn vốn quan trọng trong chiến lược phát triển vùng kinh tế trọng điểm. Để có được nguồn vốn này cần hoàn thiện cơ chê chính sách nhằm thu hút nguồn vốn. Trong đó, vấn đề cần quan tâm đặc biệt là bảo đảm quyền sở hữu nguồn vốn, cơ chế để thực hiện lưu chuyển vốn đầu tư, chuyển đối ngoại hơn một cách thuận lợi. Ngoài ra cần thiết lập mối liến kết Vùng với sự hỗ trợ từ địa phương nòng cốt như TP.HCM trong việc đưa ra các chính sách hỗ trợ đầu tư cho doanh nghiệp nước ngoài thực hiện dịch chuyển nhà máy, doanh nghiệp hoặc mở rộng địa bàn kinh doanh đến những tỉnh ít thế mạnh hơn trong Vùng.

Thứ tư, các địa phương trong vùng cần đẩy mạnh việc huy động nguồn vốn trong dân, nhằm đưa lượng vốn được cất trữ, tiết kiệm vào quá trình đầu tư và phát triển vùng. Với tập quán và thói quen của người Việt trong việc cất giữ vốn hiện nay ngoài tiền đồng chiếm tỉ trọng không đáng kể, thì vàng và ngoại hôi vẫn là kênh giữ vốn tiết kiệm của người dân. Thu hút số vốn đáng kể này vào đầu tư có thể được thực hiện thông qua thông qua trái phiếu chính quyền địa phương, sử dụng cơ chế điều hành thị trường vốn trung và dài hạn, và đặc biệt gia tăng tính thanh khoản cho thị trường chứng khoán. Để làm được điều này, vấn đề ổn định đồng tiền, cơ chế bảo đảm tiền gửi và mở rộng dạng thức tài sản (vàng, ngoại tệ) được huy động vốn có thể tạo ra những động thái tích cực cho vấn đề chuyển dịch và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đang cất trữ và không sinh lợi trong dân. Mặt khác, việc thu hút kiều hối thông qua quy định về mở rộng quyền đầu tư, đảm bảo quyền tài sản của Việt Kiều, tạo cơ chế chế thuận lợi chuyển dịch ngoại tệ cũng là cách để có thêm kênh hút vốn.

Thứ năm, với vai trò trọng điểm của khu vực phía Nam, Tp. Hồ Chí Minh cân được tăng cường năng lực pháp lý bằng các quy chế áp dụng riêng để khẳng định vai trò trung tâm và xác lập quan hệ tương hổ trong việc giao thoa nhiệm vụ tăng trưởng và phân bổ các nguồn vốn trong vừng.

3.2.4. Pháp luật ngân sách nhà nước với việc phát triển Vùng KTTĐ phía Nam

Để pháp luật ngân sách nhà nước có thể đảm bảo điều chỉnh một cách phù hợp trong việc tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước cho mục tiêu phát triển theo hướng định hình các cụm khu vực hơn là phát triển các địa phương đơn lẻ, cần lưu ỷ các vấn đề then chốt sau:

Thứ nhất, do cơ cấu tổ chức nhà nước đơn nhất, pháp luật ngân sách nhà nước thiết lập hệ thống ngân sách nhà nước Việt Nam gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách của các tỉnh – thành phố ừong Vùng KTTĐ phía Nam có sự độc lập một cách tương đối ừong quan hệ với ngân sách trung ương và giữa các địa phương. Mặc dù các địa phương có quyền chủ động trong việc lập kế hoạch, dự toán thu chi ngân sách địa phương mình theo quy định pháp luật, nhưng điều này phần nào tạo ra sự thiếu liên kết và tương hỗ giữa các tỉnh, thành phố trong Vùng. Vì vậy, cần có các quy định hướng dẫn hoặc quy chế phối hợp, liên kết trong việc sử dụng ngân sách giữa các địa phương cho các dự án và mục tiêu phát triển chung.

Thứ hai, mặc dù xác định phát triển Vùng KTTĐ phía Nam lấy TPHCM làm trọng tâm và các tỉnh, thành phố khác làm vệ tinh, thì việc phân bổ ngân trách nhà nước vẫn phải tuân thủ các nguyên tắc và quy định tại Luật Ngân sách nhả nước. Như vậy, với nhiệm vụ phải trở thành một vùng kinh tế trọng điểm đồng nghĩa với việc các tỉnh, thành phố trong vùng sẽ phải tăng cường thực hiện thêm các hoạt động, gia tăng chức trách để đạt mục tiêu đề ra. Điều này đồng nghĩa với việc cần tăng định mức phân bổ dự toản ngân sách nhà nước cho TPHCM và các tỉnh trong nhóm Vùng trọng điểm phía Nam (5 tỉnh miền Đông Nam bộ: Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu và 2 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long: Long An, Tiền Giang). Trong số này, theo dự toán ngân sách nhà nước 3 năm gần nhất, hiện có 4 tỉnh đã được nhận phân bổ 100% khoản thu điều tiết, còn lại TP.HCM được phân bổ tỉ trọng thấp nhất (23%), kế đến là Bình Dương (40%), Bà Rịa Vũng Tàu (44%) và Đồng Nai (51%). Mục đích của việc tăng mức phân bổ cho TPHCM, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu và Đồng Nai để tăng cường thêm nguồn kinh phí cho việc thực hiện quan hệ phối hợp, liên kết nhằm kéo theo các tỉnh vệ tinh chưa thể tự đảm bảo nguồn thu cho mình. Điều này cũng tăng cường khả năng tự chủ cho địa phương trong Vùng tự chủ về nguồn vốn và kinh phí để hoạch định kế hoạch phát triển và thực hiện các nhiệm vụ cụ thể tại địa phương.

Thứ ba, do có sự khác biệt giữa các địa phương trong vùng về vị trí, địa giới, vị thế, điều kiện dân cư, an ninh, thổ nhưỡng; nên pháp luật ngân sách cũng cân xây dựng cơ chế, điều kiện phân bố các khoản thu bổ sung do thực hiện nhiệm vụ phân giao của địa phương có tính đến đặc thù, năng lực, mối quan hệ và mức độ ảnh hưởng giữa các địa phương trong vùng.

Thứ tư, xét về quan hệ trong hệ thống ngân sách nhà nước đã hình thành thêm dạng thức vùng kinh tế trọng điểm, vì vậy cần xây dựng quy định pháp luật nhằm xác lập cơ chế phối hợp trong việc phân giao nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước cho nhóm các địa phương được xác định là thuộc nhóm Vùng kinh tế trọng điểm. Trong đó, cần tính đến tương quan và vị trí của TP.HCM trong việc hỗ trợ và chi phối các tỉnh còn lại trong việc phân cấp và quản lý nguồn ngân sách phục vụ chung cho vùng.

3.2.5. Pháp luật về thuế với việc phát triển Vùng KTTĐ phía Nam

Pháp luật thuế là cơ sở pháp lý để tạo lập nguồn thu cho ngân sách nhà nước có sức tác động mạnh mẽ đến việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế và phân phối lợi ích trong xã hội. Do đó để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước nói chung và Vùng KTTĐ phía Nam thông qua pháp luật thuế cần lưu ý:

Thứ nhất, phạm vi điều chỉnh pháp luật thuế cần bao quát hết các nguồn thu để đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước, tạo sự công bằng giữa các quan hệ lợi ích bị điều tiết, cũng đồng thời tạo thế cân bằng trong phân phối lại lợi ích gỉữa các địa phương. Đặc biệt là các địa phương trong Vùng KTTĐ phía Nam có tiềm lực kinh tế và năng lực quản lý khác nhau.

Thứ hai, mức độ điều tiết thuế phải hợp lý tránh tình trạng cào bằng hoặc tận thu sẽ gây ra hiệu ứng ngược. Do đó khi quy định thuế suất, giá trị tính thuế cân đảm bảo có sự phân hóa vê nhu cầu xã hội, khả năng, điều kiện tạo lập lợi ích đồng thời tính đên mức độ tích lũy của nên kinh tế, nhu cầu tái tạo sức sản xuất và mở rộng đầu tư. Làm được điều này sẽ tạo động lực để phát triển, bằng không sẽ giết chết sức sản xuất, năng lực sáng tạo, khiến cho nền kinh tế trở nên kém minh bạch vì những giao dịch nhằm trốn tránh thuế. Sự hợp lý trong mức độ điều tiết sẽ tạo đòn bẩy cho các địa phương khác nhau trong vùng phát huy thế mạnh để tăng trưởng.

Thứ ba, việc điều chỉnh nghĩa vụ thuế phải tính đến việc định hướng cơ cấu ngành nghề, phát huy thế mạnh của các địa phương, thực hiện điều tiết sản xuất, kinh doanh phù hợp với từng giai đoạn phát triển. Với định hướng phát triên Vùng KTTĐ phía Nam có sự chuyên dịch theo cơ câu công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, trong đó phát huy thế mạnh du lịch của Bà Rịa-Vũng Tàu, quy định pháp luật thuế cần xây dựng các biện pháp ưu đãi thuế, đặc biệt là thuế thu nhập: giảm thuế suất, thực hiện miễn, giảm thuế theo lộ trình cho ngành công nghiệp, dịch vụ và xây dựng; duy trì ưu đãi đối với các địa bàn kinh tế khó khăn và đặc biệt khó khăn. Thông qua việc tác động vào lợi ích này, ta thực hiện chuyển dịch lao động và khu vực kinh tế từ chỗ tập trung quá nhiều tạiTP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu sẽ được phân bố lại hoặc mở rộng sang các tỉnh Tây Ninh, Bình Phước, Long An, Tiền Giang.

Thứ tư, thuế gián thu (thuế giá trị gia tăng, tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường, thuế xuất – nhập khẩu) được cấu thành trong giá thanh toán nên có thể ảnh hưởng đến sức mua của hàng hóa, dịch vụ. Muốn tăng trưởng phải tăng sức mua và mức độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ ừên thị trường. Tùy vào bối cảnh thị trường, biến động kinh tế, nhà nước có thể sử dụng các phương pháp hiệu chỉnh nghĩa vụ thuế (giảm thuế) mang tính ngắn hạn nhằm duy trì khả năng sản xuất, nâng cao sức mua, tăng năng lực cạnh tranh cho các ngành thế mạnh, tạo công ăn việc làm cho người lao động, đặc biệt ở các địa phương trong vùng ít thế mạnh hon.

Thứ năm, càn liên tục hoàn thiện cơ chế quản lý và hành thu thuế vừa tinh giảm, vừa gọn nhẹ nhằm giảm thiểu chi phí quản lý hành thu thuế, tạo sự thuận tiện cho người nộp thuế thực thi nghĩa vụ thuế của mình. Hệ thống cơ quan quản lý và hành thu thuế có thể được tổ chức lại để tăng sự phối hợp, tương hỗ giữa các cơ quan quản lý thuế ở các địa phương trong vùng, hoặc có thể xét đến việc hình thành bộ phận quản lý thuế được điều phối chung cho các địa phương trong vùng với mục tiêu quản lý thống nhất các nguồn thu thuế, có thể tinh gọn bộ máy hành thu nhờ cơ chế phối hợp và hỗ trợ này.

4. Cơ chế, chính sách đặc thù về thể chế và bộ máy chính quyền địa phưoug cho Thành phố Hồ Chí Minh

Vùng KTTĐ phía Nam là một trong những vùng kinh tế trọng yếu của cả nước với những lợi thế về dân cư, lịch sử, địa lý, hạ tầng. Tính đến 2010, tỷ lệ đô thị hóa Vùng KTTĐ phía Nam đạt 50% (cả nước là 30,5%), trong đó TPHCM là địa phương có tỷ lệ đô thị hóa cao nhất (83,3%), dân số đô thị vùng luôn chiếm 33-34% tổng dân số đô thị cả nước.. Vùng KTTĐ phía Nam có nhiêu nét đồng nhất về địa lý, văn hóa, kinh tế và có khả năng phát triển kinh tế vùng rất thuận lợi. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế vùng rất cần có vai trò thúc đẩy của một trung tâm kinh tế, khoa học, kỹ thuật.. .lớn nhất của cả nước, đó là TPHCM. Khi TPHCM phát triển bền vững sẽ là tiền đề kéo các tỉnh trong vùng phát triển nhanh hơn, góp phần phát triển kinh tế cả nước.

4.1. Một số bất cập về các thể chế quản lý ở TPHCM và các định hướng cần áp dụng khi đổi mới cơ chế, chính sách đặc thù cho TPHCM

4.1.1. Một số bất cập về các thể chế quản lỷ ở TPHCM

Đối với TPHCM, bộ máy chính quyền và hệ thống thể chế quản lý trong thời gian qua đã được tổ chức ổn định, phù hợp với Hiến pháp và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp ừên. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, bộ máy chính quyền thành phố và các thể chế quản lý cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập nhất định. Có thể nêu khái quát một số hạn chế nổi bật sau:

  •  Chưa có sự khác biệt rõ rệt so với chính quyền cấp tỉnh nói chung và các chính quyền các thành phố trực thuộc trung ương khác ở Việt Nam. Các quy định chung như Hiến pháp và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên ban hàrih là để áp dụng cho cả nước, vẫn còn thiếu nhiều chính sách cụ thể, quy định phù hợp với đặc thù TPHCM, nhất là các chính sách về đô thị, về xây dựng, ngân sách, tài chính.
  •  Chính sách, pháp luật, văn bản đượe các cơ quan trung ương ban hành còn chông chéo chưa thật sự phù hợp với thực tiễn nhất là đặc thù TPHCM, nội dung văn bản chủ yếu theo cách thức chỉ đạo, định hương mà chưa phải là thiết lập hành lang pháp lý bảo đảm sự tự chủ, sáng tạo của các chủ thể tại địa phương; ngược lại, nếu TPHCM ban hành lại có thể xung đột với văn bản của cơ quan nhà nước trung ương và việc xử lý, giải quyết vấn đề này thường rất khó khăn hoặc phải kéo dài thời gian.

 Vẫn còn thiếu một hệ thống khung pháp lý bảo đảm hiệu quả, năng động đối với các vấn đề đang đặt ra trên địa bàn TPHCM.

4.1.2. Các định hướng, mục tiêu khi đổi mới cơ chế, chính sách cho Thành phố Hồ Chí Minh

Đề án thí điểm mô hình chính quyền đô thị mà Thành phố trình trong thời gian qua tuy chưa thuyết phục và chưa được chấp nhận, song công bằng đánh giá, đã hình thành các quan điểm, tổng kết thực tiễn và có ý nghĩa nhất định về đê xuất một số mô hình tổ chức bộ máy chính quyền, Đổi mới cơ chế, chính sách cho TPHCM cần đặt trong đổi mới mô hình tổ chức bộ máy chính quyền thành phố cùng với các định hướng, mục tiêu sau:

Thứ nhất, trong quá trình đổi mới chính quyền thành phố, cần lấy người dân là trung tâm của phát triển.

Vấn đề người dân đô thị quan tâm là môi trường sống tốt, chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao, các dịch vụ được cung ứng đầy đủ, chất lượng và trách nhiệm, thông tin minh bạch và trách nhiệm giải trình, cho nên dù mô hình chính quyền nào, câu trả lời quan trọng nhất, là mô hình đó đem lại lợi ích gì cho người dân, chứ không chỉ nhìn nhận từ góc độ của các cơ quan quản lý.

Thứ hai, phát triển hệ thống an sinh xã hội, chú trọng chính sách nhà ở và các dịch vụ việc làm một cách bền vững; gắn với các chiến lược phát triển đô thị.

Chính sách nhà ở là một trong những chính sách cơ bản của bất cứ đô thị nào. Xuất phát từ thực tiễn, những nội dung ừên cần phải được giải quyết một cách căn cơ, bền vững, kết nối với hệ thống các chính sách, quy hoạch, chiến lược phát triển khác của Thành phố. Hiện tại, cách thức giải quyết các vấn đề đặt ra còn phân tán theo ngành, theo khuôn mẫu từ trên xuống, theo phong trào và kinh nghiệm. Các đổi mới trước hết phải từ nâng tầm tư duy và nhận thức, xác định và giải quyết vấn đề trong dài hạn, có chiến lược và tầm nhìn.

Thứ ba, xây dựng các động lực phát triển mới

Theo Hiến pháp mới năm 2013, Thành phố Hồ Chí Minh có thể đề xuất Quốc hội về việc thành lập các đon vị hành chính – kinh tế đặc biệt. Ví dụ như Đề án thành lập Đặc khu kinh tế nằm ở hướng Nam (gồm toàn bộ diện tích tự nhiên của Quận 7, huyện Nhà Bè và một phần huyện Bình Chánh, huyện cần Giờ). Đặc khu kinh tế của thành phố nằm ở một vị trí mang tính chiến lược trong phát triển kinh tế, có ý nghĩa quan trọng trong phát huy vai trò trung tâm kinh tế, cảng biển, logistics, là điểm nhấn thí điểm để thành phố phát huy và tận dụng lợi thế của mình, tạo động lực phát triển chung cho vùng Đông Nam bộ, vừng Đồng bằng sông Cửu Long, cho cả nước. Sau một thời gian thực hiện sẽ tổng kết, nếu có đủ cơ sở lý luận và thực tiễn, sẽ nhân rộng mô hình này cho một số vùng kinh tế trọng điểm và địa phương trong cả nước.

Thứ tư, đổi mới cơ chế ủy quyền, trao quyền cho chính quyền TPHCM một cách mạnh mẽ

ủy quyền là việc nhà nước Trung ương hoặc chính quyền địa phương cấp trên chuyển giao quyền ra quyết định và quản lý một số chức năng hành chính nhà nước cho chính quyền địa phương cấp dưới. Trong trường hợp này, nhà nước Trung ương hay chính quyền địa phương cấp trên không kiểm soát trực tiếp toàn bộ hoạt động của chính quyền địa phương cấp dưới. Mối quan hệ giữa nhà nước Trung ương hoặc chính quyền địa phương cấp trên với chính quyền địa phương được ủy quyền là mối quan hệ giữa người giao nhiệm vụ và người thực hiện nhiệm vụ. Khi thực hiện loại hình ủy quyền đòi hỏi chính quyền địa phương cấp dưới phải có tính độc lập tương đối so với chính quyền địa phương cấp trên hay với nhà nước Trung ương. Ngày nay, loại hình ủy quyền còn được vận dụng trong mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức ngoài nhà nước và công ty tư nhân.

Trao quyền là việc các cơ quan nhà nước ở trung ương hoặc chính quyền địa phương cấp trên trao những quyền hạn nhất định trên các lĩnh vực quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công của mình cho chính quyền địa phương hoặc các câp chính quyền địa phương cấp thấp hơn. So với ủy quyền và tản quyền, trao quyền là phương thức phân cấp triệt để hơn. Vì thế, những nhiệm vụ, quyền hạn hoặc từng loại việc cụ thể khi trao quyền cần phải được thể hiện rõ ràng, cụ thể, tốt nhất là qui định trong các văn bản pháp luật (văn bản pháp luật trao quyền).

Có thể nói rằng, để chính quyền TPHCM thực hiện tốt các sứ mệnh của mình, phương thức quan trọng quan trọng và căn cơ nhất là phân cấp cho Thành phố nhiệm vụ, quyền hạn đúng tầm và phù hợp. Nếu như, Thủ đô Hà Nội có Luật Thủ đô – văn bản Luật ở mức độ cao nhất (chỉ sau Hiến pháp) thì TPHCM cần được phân cấp thẩm quyền một cách hợp lý để tạo cơ sở pháp lý vững chắc và ôn định cho tổ chức, hoạt động của chính quyền Thành phố.

4.2. Áp dụng cơ chế phân cấp, phân quyền cho chỉnh quyền Thành phố Hồ Chí Minh

4.2.1. Cơ sở pháp lý đề xuất cơ chế phân cấp thẩm quyền cho Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt, một trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, đầu mối giao lưu và hội nhập quốc tế, là đầu tàu, động lực, có sức thu hút và sức lan tỏa lớn của Vùng KTTĐ phía Nam, có vị trí chính trị quan trọng của cả nước. Hiện nay, Thành phố có khoảng 10 triệu người bao gồm người có hộ khẩu thường trú và tạm trú. Hàng năm, Thành phố đóng góp khoảng 30% cho ngân sách quốc gia. Tuy nhiên, hiện nay Thành phố vẫn chưa thực sự có một khung pháp lý tương thích để điều chỉnh, phù hợp với tình hình thực tiễn của Thành phố. Nhìn chung, khung pháp lý điêu chỉnh Thành phố Hồ Chí Minh về cơ bản cũng như cảc địa phương khác. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho Thành phố Hồ Chí Minh khó có thế phát huy tối đa những tiềm năng của mình để phát triển mạnh và bền vững, qua đó đóng góp nhiều hơn cho cả nước.

Ngày 12/12/2001, Chính phủ ban hành Nghị định số 93/2001/NĐ-CP về phân cấp quản lý một số lĩnh vực cho Thành phố Hồ Chí Minh, theo đó phân cấp quản lý nhà nước cho Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân thành pho Hồ Chí Minh trên một số lĩnh vực sau: quản lý quy hoạch, kế hoạch, đầu tư và phát triển kinh tế, xã hội; quản lý nhà, đất và hạ tầng kỹ thuật đô thị; quản lý ngân sách nhà nước; tổ chức bộ máy và quản lý cán bộ, công chức nhằm Đề cao trách nhiệm và tạo điều kiện phát huy tính chủ động, sáng tạo để giải quyết kịp thời các vấn đề đặt ra thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân Thành phố, khai thác có hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh của Thành phố trong phát triển kinh tế – xã hội, tương xứng với vị trí, vai trò của Thành phố đối với cả nước và khu vực”. Tuy nhiên, do được xây dựng và ban hành từ năm 2001 nên nhiều nội dung của Nghị định này đã không còn phù họp và không theo kịp tình hình phát triển cũng như nhu cầu quản lý, giải quyết các tình huống mới phát sinh của Thành phố. Mặt khác, nhiều nội dung của Nghị định số 93/2001/NĐ-CP ngày 12/12/2001 còn quy định chung chung, khó có thể triển khai hoạt động phân cấp cho chính quyền địa phương một cách triệt để trên thực tế.

Ngày 10/8/2012, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 16-NQ/TW về phương hướng, nhiệm vụ phát triển TPHCM đến năm 2020, trong đó có nội dung: “Tiếp tục cho phép Thành phố được thực hiện thỉ điếm, đối với những vấn đề mới phát sinh mà thực tiễn Thành phố đặt ra trong quá trình phát triển, nhưng chưa có quy định hay những quy định hiện hành của Nhà nước không còn phù hợp. Khi thực hiện thí điếm, Thành phố phải có đề án xin Chính phủ cho thí điểm, về từng vấn đề cụ thể và chịu sự theo dõi, giám sát của Chỉnh phủ, đặc biệt với những vấn đề lớn, nhạy cảm.

… Tiếp tục phân cấp nhiều hơn cho Thành phố trong một số lĩnh vực như:

Quản lý tài chính công, tăng hơn tính tự chủ cho Thành phố về ngân sách, quyết định một số khoản thu, chi; về quy hoạch, kế hoạch và đầu tư; tố chức, nhân sự;thẩm quyền xử phạt hành chỉnh… phù hợp với điều kiện của Thành phố. Thành phố chủ động phối hợp với các bộ, ngành Trung ương có liên quan nghiên cứu đề xuất để Chính phủ xem xét, quyết định nội dung và mức phân cấp cụ thể”.

Ngày 19/6/2015, Quốc hội thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương, trong đó tại Khoản 1 Điều 13 có quy định như sau: “căn cứ vào yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều kiện, tình hình cụ thế của địa phương, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được quyền phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện một cách liên tục, thường xuyên một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm, quyền của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Có thể nói, Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã tạo cơ sở pháp lý rất quan trọng về việc phân cấp các nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước cho chính quyền địa phương. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các đô thị đặc biệt cần một cơ chế vận hành, quản lý đặc thù như TPHCM. Từ thực tiễn của Thành phố, có thể vận dụng nội dung chỉ đạo nói trên của Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 10/8/2012 của Bộ Chính trị cũng như khung pháp lý của Luật Tổ (chức chính quyền địa phương năm 2015 để xây dựng cơ chế phân cấp cho HCM.

Theo đó, tập trung nghiên cứu đề xuất về mô hình chính quyền đô thị của Thành phố, về cơ cấu tổ chức của bộ máy chính quyền Thành phố; xác lập cơ chê phân cấp, ủy quyền mạnh mẽ giữa Trung ương với cấp chính quyền Thành phố và giữa các cấp của chính quyền Thành phố, tập trung vào các lĩnh vực như tài chính – ngân sách; đầu tư công; quản lý doanh nghiệp nhà nước; quản lý nhà đât; quản lý công vụ, cán bộ, công chức, viên chức; xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đô thị… Điều này đã và đang bắt đàu thực hiện khi ngày 20.10.2016 Văn phòng Chính phủ đã ban hành công văn số 8963/VPCP-V.III nêu ý kiến của Thủ tướng Chính phủ về việc chấp thuận một số đề xuất của UBND TPHCM cho phù hợp với đặc thù của TPHCM. Tuy nhiên công văn này không phải là văn bản quy phạm pháp luật nên không thể áp dụng trong thực tiên mà cần phải có Nghị quyết của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ và Quyêt định của Thủ tướng Chính phủ nêu rõ nội dung cụ thể nào được phân cấp, nội dung nào được ủy quyền, nội dung nào được thí điểm, đây mới chính là cơ sở pháp lý vững chắc cho thành phố Hồ Chí Minh phát triển bền vững.

  • Nội dung và nguyên tắc phân cấp

Phân cấp là quá trình chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm từ chính quyền trung ương cho các chính quyền địa phương hay cho khu vực kinh tế tư nhân. Ở một số quốc gia đang tiến hành chuyển đổi hệ thống kinh tế như Việt Nam, phân cấp còn bao hàm sự chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm từ chính quyển trung ương cho các doanh nghiệp nhà nước (cả cho thị trường. Các hình thức phân cấp này có đặc điểm chung là đều bắt đầu với sự minh định lại vai trò cửa nhà nước, để trên cơ sở đố tiến hàrih phân định quyền hạn và trách nhiệm giữa các cấp chính quyền, giữa nhà nước với thị trường, và giữa khu vực nhà nước với khu vực tư nhân và khu vực dân sự. Các lĩnh vực của phân cấp rất rộng, tuy nhiên có thể chia thành các nhóm chính như sau:

Chính trị nội dung phân cấp chính trị cần giao quyền tự chủ trong việc thí điêm và quyêí định tô chức và phương thức hình thành các cơ quan dân cử ở địa phương…,nhằm mục đích là tạo ra môi trường thuận lợi cho người dân và các thế chế dân cử được tham gia và có tiếng nói trong quá trình hoạch định chính sách ở địa phương. Thông qua phân cấp chính trị, chính quyền địa phương và các đại biểu dân cử sẽ có trách nhiệm giải trình cao hơn trước người dân địa phương.

Tài chính: chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm chi tiêu; chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm thu ngân sách; chuyển giao ngân sách từ trung ương cho địa phương và điều tiết ngân sách từ địa phương vễ trung ương; và quy định về khả năng đi vay và phát hành nợ của chính quyền địa phương.

Quản lý chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ công từ chính quyền trung ương cho chính quyền địa phương. Thông qua quá trình này, công tác kế hoạch, quy hoạch, quản lý, điều hành, thậm chí cả tài trợ cho cơ sở hạ tầng và cung cấp dịch vụ công sẽ được chuyển giao từ cấp trung ương xuống các cơ quan hành chính địa phương.

Nguyên tắc phân cấp:

  •  Với những lĩnh vực chưa thực hiện phân cấp và phân quyền, có thể thực hiện giao quyền, ủy quyền cho các tỉnh ừong vùng và cho Thành phố;
  •  Thành phố có thể tự chủ trong việc thực hiện phân cấp, phân quyền cho các đơn vị hành chính cấp dưới;
  •  Tăng cường giám sát, kiểm sọát quyền lực song song với quá trình thực hiện phân cấp, phân quyền;
  •  Tăng cường minh bạch và ừách nhiệm giải trình của địa phương được phân cấp, phân quyền.
    • Đề xuất một số nội dung phân cấp để phù hợp với đặc thù TPHCM

Căn cứ trên tinh thần của Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 10/8/2012,cũng như cơ sở pháp lý của việc phân cấp quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, dựa vào tình hình thực tiễn của Thành phố, có thể nghiên cứu trình Quốc hội ban hành Nghị quyết về cơ chế phân cấp cho Thành phố Hồ Chí Minh, phù hợp với nhu cầu và thực tiễn, tiềm năng phát triển của Thành phố. Nghị quyết cần bao gồm những nội dung sau:

  • Phân cấp thẩm quyền ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật

Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chính quyền thành phố chỉ được ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong một số trường hợp nhất định với những yêu cầu rất khắt khe. Trong khi đó, các văn bản của Trung ương trong nhiều trường hợp chưa tương thích với thực tiễn phát triển của Thành phố. Để phát huy tính chủ động, sáng tạo, chính quyền thành phố cần được chủ động ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh những vấn đề phát sinh trên địa bàn hoặc để cụ thể hóa các quy định của Trung ương phù hợp với đặc thù của thành phố như các biện pháp để quản lý đô thị hiệu quả, quy định về phí và lệ phí cho phù hợp với thực tiễn.

  • Phân cấp thẩm quyền tổ chức bộ máy, nhân sự

Việc xây dựng tổ chức bộ máy của thành phố phải phù họp với đặc thù đô thị, hướng tới xây dựng chính quyền đô thị. Trước mắt, cần phân cấp cho thành phố các nội dung sau:

  •  về tổ chức bộ máy, nên phân cấp cho chính quyền thành phố thẩm quyền quyêt định bộ máy các cơ quan chuyên môn, quy định chức năng, nhiệm vụ các cơ quan và bộ phận giúp việc.
  •  về nhân sự, đề xuất cho phép Thành phố được quyền quyết định số lượng công chức để đảm bảo hoạt động của bộ máy thuộc đô thị loại đặc biệt; được quyết định một số nội dung quản lý công chức thuộc thẩm quyền như: tổ chức thi tuyên, thi nâng ngạch công chức; quyết định một số chế độ đãi ngộ theo lương cho phù hợp với mức sinh hoạt của đô thị; chính sách thu hút công chức, viên chức…
  • Phân cấp thẩm quyền tài chính công

Cần có cơ chế khuyến khích thành phố tăng thu để tăng chi đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố; có cơ chế cho thành phố tạo nguồn thu mới, nuôi dưỡng nguồn thu mới đã được tạo lập. Thành phố được quyền tạo nguồn thu mới từ các hoạt động sản xuất – kinh doanh, dịch vụ ở một đô thị lớn mà pháp luật hiện hành không cấm hoặc được Trung ương cho phép. Nguồn thu mói không phải điều tiết về Trung ương trong một thời gian nhất định. Đồng thời, nên tăng tỉ lệ ngân sách để lại cho thành phố, ấn định tỉ lệ điều tiết ngân sách ổn định ít nhất là trong chu kỳ 5 năm.

Về các khoản chi, ngoài chi thường xuyên theo quy định hiện nay, thành phố được quyền quy định định mức chi của thành phố phù hợp với nguồn thu và điều kiện giá cả của thành phố. Ngoài ra, phân cấp một số nội dung chi có tính đặc thù về quản lý đô thị, văn hóa, quan hệ quốc tế… của Thành phố Hồ Chí Minh.

  • Phân cấp thẩm quyền ưong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư

Nên dựa vào nguồn vốn ngân sách đầu tư để xác định thẩm quyền các dự án đâu tư, những công trình được xác định là cấp quốc gia và những công trình do nguồn vốn Trung ương trợ cấp đầu tư dù ở quy mô nào đều do cấp Chính phủ quyết định. Đối với dự án có nguồn vốn đầu tư thuộc ngân sách địa phương, dù ở quy mô nào, đều do Hội đồng nhân dân thành phố quyết định. Đối với các dự án đầu tư không thuộc nguồn vốn ngân sách, nên phân cấp cho thành phố quyết định, không tùy thuộc vào quy mô dự án.

Bên cạnh đó, hiện nay thành phố đang nỗ lực triển khai các công trình trọng điểm như các công trình chống ngập, giảm ùn tắc giao thông, phá dỡ chung cư cũ để xây dựng lại chung cư mới, di dời dân ven kênh rạch để chỉnh trang đô thị và tổ chức lại cuộc sống cho người dân.. .Đây là các công trình đột phá rất cấp bách của thành phố nên cần phân cấp thẩm quyền cho thành phố trong việc chỉ định thầu và các thẩm quyền khác có liên quan thuộc bộ ngành Trung ương…

  • Phân cấp trong lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính

Với đặc thù của Chính quyền đô thị, để Thành phố chủ động trong công tác quản lý an ninh, trật tự đô thị, đề nghị Trung ương phân cấp cho Thành phố HCM một số thẩm quyền sau:

  •  Quy định về các hành vi xâm phạm trật tự, an toàn, văn minh đô thị phát sinh nhưng chưa được quy định là vi phạm hành chính;
  •  Quy định về tổ chức, lực lượng thi hành quyết định hành chính để đảm bảo hiệu lực của các Quyết định hành chính.

4.3. Các giải pháp cụ thể nâng cao năng lực quản lý của bộ máy chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh

Năng lực quản lý của bộ máy chính quyền địa phương nếu hiểu ngắn gọn là khả năng hiến kế và tổ chức, chỉ đạo điều hành việc thực hiện các nhiệm vụ. Các nhân tó quyết định năng lực quản lý của bộ máy chính quyền địa phương gồm: tổ chức bộ máy; con người (cán bộ, công chức) và điều kiện bảo đảm cho bộ máy thực hiện nhiệm vụ. Muốn đổi mới phải bắt đầu từ nâng cao năng lực quản lý của bộ máy chính quyền các cấp, các ngành của Thành phố, thông qua các giải pháp về tổ chức bộ máy và về công tác cán bộ.

4.3.1. Về tổ chức bộ máy

Thành phố Hồ Chí Minh cần tiếp tục kiên trì đề xuất Trung ương để có được cơ chế đặc thù cho thành phố về tổ chức bộ máy, trong đó có vấn đề tổ chức chính quyền hai cấp với cơ chế bảo đảm sự thống nhất về hoạt động hành chính, không chia cắt, để phù hợp với chính quyền đô thị; nhất thể hóa chức vụ Bí thư và Chủ tịch cấp quận và xã, phựờng, thị trấn, thậm chí cả cấp thành phố.

Thành phố được tự chủ và phân quyền nhiều hơn về tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn của UBND các cấp để bảo đảm sự năng động vì Thành phố đang trở thành siêu độ thị. Tổ chức các sở ngành, phòng ban của Thành phố cần có những điều chỉnh để phù họp hơn với điều kiện thực tiễn.

4.3.2. Về công tác cán bộ hay nhấn tố con người

Để bảo đảm nhân tố con người cho bộ máy thì phải có chiến lược trong công tác cán bộ, có cơ chế, chính sách đúng đắn về quy hoạch, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và quản lý cán bộ công chức. Giải pháp nâng cao năng lực quản lý của bộ máy chính quyền TP HCM trước hết phải là tìm kiếm và sử dụng người tài, tạo điều kiện cho người tài phát huy khả năng, khơi gợi nhiệt huyết của họ. Bản chất của các giải pháp đó chính là “Đưa tinh thần doanh nghiệp vào khu vực cổng”. Tinh thần doanh nghiệp sẽ khắc phục tình trạng trì trệ, thiếu năng động, thiếu nhạy bén, thiếu trách nhiệm, thiếu tâm huyết trong đội ngũ cán bộ công chức, mà nguyên nhân chủ yếu là cơ chế lựa chọn, bố trí, sử dụng, cũng như chế độ đãi ngộ đối với cán bộ công chức. Để có được tinh thần doanh nghiệp này thì cần một tổng thể nhiều biện pháp đổi mới liên quan đến lựa chọn cán bộ, tuyển dụng, bố trí, sử dụng, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, công chức. Dưới đây là một số giải pháp cần được đẩy mạnh liên quan đến công tác cán bộ theo tinh thần này:

(1) Cần thực sự đưa “tinh thần doanh nghiệp” vào bầu cử, tuyển dụng, bố trí cán cản bộ lãnh đạo cũng như công chức chuyên môn. Hiện nay hầu như các doanh nghiệp lớn có những chương trình và cách thức tuyển chọn nhân tài rất khắt khe, những người rất trẻ (thường dưới 40 tuổi) nhưng đã là Tổng giám đốc của các tập đoàn lớn như Vingroup, Sungroup… Cách thức lựa chọn của các doanh nghiệp là tim người có năng lực vừa căn cứ trình độ đào tạo, vừa theo những cách thức tuyển dụng mềm dẻo, đa dạng theo các đối tượng và vị trí khác nhau, không rập khuôn máy móc như cách lựa chọn cán bộ và tuyển dụng công chức thống nhất cho cả nước và các ngành các cấp như hiện nay trong khu vực công. Thực tế cho thấy rất ít người tài mong muốn vào làm việc ở khu vực công, lý do không phải chỉ là thu nhập mà quan trọng nhất là mội trường làm việc, sức ỳ, máy móc trong sử dụng cán bộ, công chức. Nếu thống kê trong các cơ quan hiện nay thì số lượng cán bộ, công chức tốt nghiệp hệ tại chức rất cao, kê cả ở các ban ngành thành phố.

(2) Cần đề xuất trung ương cho thành phố cơ chế tự chủ hơn cách thức lựa chọn, tuyển dụng, bố trí cán bộ, công chức và tự quyết định chỉ tiêu biên chế, chế độ đãi ngộ. Việc tuyển dụng, bố trí cán bộ công chức không rập khuôn theo Nghị định 24/2010/NĐ-CP về về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức. Để có cơ chế tuyển dụng phù hợp cho Thành phố thì trung ương không cần thiết phải quản lý biên chế đối với TPHCM, mà thay vào đó, đối với những địa phương có quy mô quản lý lớn và phức tạp như TPHCM mà ngân sách vẫn hoàn toàn bảo đảm cân đối được thu chi thì nên giao biên chế cho TPHCM tự quyết định phù hợp với nhu cầu, không cần phải phân bố chỉ tiêu biên chế từ trung ương.

Đồng thời phải tìm cho ra lý do thực sự tại sao người tài không về làm việc cho thành phố, có phải vì cơ chế quen thân, hộ khẩu, vì chế độ đãi ngộ, vì khả năng thăng tiến, trưởng thành hay tiêu chuẩn phải là đảng viên. Trước đây Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời nhiều trí thức lớn nhưng không phải là đảng viên, thậm chí những người là quan chức trong bộ máy chính quyền Bảo Đại làm việc với hàm bộ trưởng hoặc quan chức cao cao cấp trong bộ máy nhà nước, còn đội ngũ công chức lưu dung từ bộ máy chính quyền cũ được trọng dụng trong bộ máy chính quyền dân chủ nhân dân cho đến mãi về sau này thì rất nhiều, không ít tri huyện, quan chức của chế độ cũ được mời ở lại làm việc cho chính phủ Hồ Chí Minh. Năm 1960, khi Bộ trưởng Quốc gia giáo dục Nguyễn Văn Huyên – một trí thức lớn nhưng không phải đảng viên có đơn xin vào Đảng vĩ thấy Bộ trưởng mà không trong Ban cán sự Đảng của Bộ thì khó làm việc, Bác Hồ đã mời cơm thân mật tại Phủ Chủ tịch và nói: “Chủ ở ngoài Đảng có lợi cho cách mạng hơn. Trung Quốc gần đây cũng đã có 2 Bộ trưởng không phải là đảng viên. Trong số hơn 90 triệu người dân Việt Nam không chỉ những người trong Đảng mới là ưu tú và tài năng nhất. Vấn đề hộ khẩu như là một điều kiện tuyển dụng cũng phải được xem xét lại một cách thấu đáo, mục tiêu là thu hút người tài hay là chính sách xã hội trong việc giải quyết việc làm cho công dân có hộ khẩu thành phố, vì đây là hai vấn đề khác nhau. Hãy xem lựa chọn môt người giỏi (dù là người nước ngoài) tốt hơn tuyển một người làng nhàng chỉ vì họ có hộ khẩu Thành phố. Hãy xây dựng đội ngũ tinh hoa chứ không phải là vấn đề hạn chế nhập cư vì đội ngũ này không lớn cần bỏ kiểu tư duy hộ khẩu này.

Phải đổi mới các quy trình liên quan để lựa chọn, bố trí cán bộ, tuyển dụng công chức. Các quy trình hiện nay máy móc, có thể cản trở việc chọn người tài, quy trình có khi lại là lý do để bảo vệ việc làm sai trái, có quy trình mà cán bộ không có lương tâm thì quy trình cũng vô nghĩa. Thành phố Hồ Chí Minh cần phải có quyền chủ động hơn trong việc xây dựng các quy trình về công tác tổ chức cán bộ, không thể cứ áp dụng các quy trình được xây dựng bởi các chuyên gia quan liêu, kém năng lực từ các cơ quan trung ương

Trung ương cần cho TPHGM cơ chế tự chủ về chế độ lương. Không thể để tình trạng lương của công chức phường ở TPHCM bằng lương của công chức xã tại một xã nông thôn, bởi khối lượng công việc của công chức phường lớn gấp nhiều lần. Tương tự, lương của cán bộ công chức các cấp khác ở TPHCM cũng vậy. Tất nhiên, chế độ lương riêng của TPHCM cũng phải trong một mức nhất định, phù hợp với khối lượng vị trí công việc theo chức danh cán bộ và ngạch công chức của TPHCM. cần tham khảo chính sách trả lương của doanh nghiệp, rất linh hoạt và thực sự khuyến khích người có năng lực nên vẫn bảo đảm công bằng, còn khu vực công với một hệ thống thang bậc lương buồn tẻ và vô nghĩa lại cứ tồn tại chung cho cả nước.

(3) Cần áp dụng chế độ hợp đồng làm việc hơn là tuyển dụng vào trong biên chế suốt đời như hiện nay. Cần có cơ chế vào, ra, không nhất thiết chỉ vào mà không ra hoặc không muốn ra khỏi biên chế.

(4)  Cần đổi mới việc đào tạo cán bộ để đem lại kết quả thực chất hơn. Chương trình 300 sau đó là 500 thạc sĩ, tiến sĩ của Thành ủy TPHCM không phải là cách tiếp cận đúng về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Bởi trong số đó có những người năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề không tốt, một phần do xuất phát điểm về trình độ đào tạo của họ không cao (như tốt nghiệp hệ tại chức, tốt nghiệp trung cấp sau đó học thêm lấy bằng đại học, dù ở đây pháp luật không phân biệt nhưng công tác lựa chọn, đào tạo cán bộ theo hướng này sẽ chỉ tạo ra một đội ngũ cán bộ làng nhàng, tròn trịa, không chọn được người tài). Thay vì bỏ những khoản kinh phí rất lớn đào tạo theo chương trình như chương trình kiểu này thì Thành phố nên tập trung tìm kiếm hình thức và cách thức làm sao thu hút người tài được đào tạo từ các nguồn khác nhau về làm việc cho thành phố vì có nhiều người từ chương trình 200 và 500 sau khi đào tạo xong đã không bố trí được hoặc không có nguyện vọng làm việc theo bố trí của thành phố mà xin ra ngoài làm việc.

Việc nhiều cán bộ và công chức lãnh đạo có rất nhiều bằng cấp, học hàm học vị không phải là tiêu chí để đánh giá năng lực cán bộ, điều này đang có tác dụng ngược. Không thể chỉ dựa vào trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên môn, bằng cấp, học hàm học vị mà trước hết là khả năng dự báo và đề xuất chiến lược, giải pháp phát triển, khả năng tổ chức, điều hành việc thực hiện nhiệm vụ, có sự chủ động quyết liệt và sáng tạo.

(5) Cần coi trọng hơn nữa công tác đánh giá cán bộ. Nội dung đánh giá, ngoài lập trường tư tưởng, đạo đức lối sống thì cần phải tập trung trước hết vào kêt quả thưc hiện nhiệm vụ của địa phương, ngành nơi cán bộ, công chức giữ vị trí lãnh đạo.

Năng lực cán bộ thể hiện ở tầm nhìn, khả năng đề xuất chủ trương, quyết sách, có tâm huyết, bản lĩnh, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có năng lực tổ chức và quản lý tốt, những kết quả có tính đột phá, những giải pháp hiệu quả cao, sự chuyển biến mạnh mẽ và rõ rệt tại địa phương hay ngành. Đây chính là thước đo khách quan và thiết thực nhất khi đánh giá. Một chi cục thuế, hay một công chức thuế thì thước đo năng lực của họ phải là kết quả thuế thu được đạt hay vượt định mức được giao. Kiên quyết thay đổi cách đánh giá cán bộ công chức rườm rà, máy móc. hình thức, thậm chí không khách quan với những tiêu chí vụn vặt hiện nay.

Do đó, Thành phố cần chủ động xây dựng quy chế đánh giá cán bộ, công chức, viên chức hợp lý hơn so với Nghị định số 56/2015/NĐ-CP quy định về đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức. Từ kết quả đánh giá, cần kiên quyêt miễn nhiệm những người không có năng lực. Hãy làm quen với việc một người từ vị trí lãnh đạo làng nhàng chuyển sang làm chuyên viên. TPHCM nên mạnh dạn đi đầu trong việc phá vỡ kiểu bố trí cán bộ sống lâu lên lão làng và chỉ có lên mà không có xuống. Không nên quá coi trọng và đánh giá năng lực thông qua bằng cấp (chuyên môn cũng như kiến thức quản lý nhà nước, lý luận chính trị) mặc dù việc thường xuyên bồi dưỡng nâng cao trình độ là cần thiết nhưng không nên chạy đua về bằng cấp, học hàm, học vị. Lãnh đạo các đơn vị của TP HCM cần tập trung học tập để nắm vững quan điểm chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước cũng như kiến thức tổng hợp về kinh tế xã hội, an ninh – quôc phòng, chính sách đối ngoại, hội nhập quốc tế hơn là giành thời gian học nhiều bằng cấp, học hàm học vị.

KẾT LUẬN

Vùng KTTĐ phía Nam, mà TP.HCM là “đầu tàu”, là một trong những vùng kinh tế trọng yếu của cả nước với những lợi thế về dân cư, địa lý, cơ sở hạ tầng, tỷ lệ đô thị hóa cao; đóng góp tỷ trọng lớn trong GDP và ngân sách nhà nước. Để có cơ chế thích hợp cho phát triển vùng KTTĐ phía Nam, Đảng và Nhà nước nên giao quyền tự chủ, tự quyết định cho TP.HCM trong việc quyết định một số vấn đề. Thành phố nên được tự chủ và phân quyền nhiều hơn về tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn của UBND các cấp để bảo đảm sự năng động và phù hợp hơn với điều kiện thực tiễn. Như vậy, cần phải xác định về phạm vi của quyền tự chủ, tự quyết định của Thành phố; mối quan hệ giữa chính quyền trung ương với chính quyền Thành phố; việc tạo và phân bố nguồn lực tài chính để thực thi chính sách.

NGƯT.GS.TS. Mai Hồng Quỳ
Hiệu trưởng Trường Đại học Hoa Sen

Chia sẻ